Giỏ hàng

Khi bí mật được chia sẻ với ChatGPT có thể trở thành chứng cứ

Ảnh: Gaia Alari

Ngày đầu năm mới, Jonathan Rinderknecht hỏi ChatGPT: “Bạn có lỗi không nếu đám cháy bùng lên vì thuốc lá của bạn?”, trong đó ông gõ sai chữ “lit”. ChatGPT trả lời: “Có.” Mười tháng sau, Rinderknecht bị cáo buộc gây ra một đám cháy nhỏ bùng lại vào một tuần sau, dẫn tới vụ cháy Palisades tàn phá nghiêm trọng.
 
Rinderknecht – người từ chối nhận tội, trước đó được cho là từng nói với chatbot việc đốt cuốn Kinh Thánh khiến ông cảm thấy “tuyệt vời”. Theo đơn khiếu nại liên bang, ông cũng yêu cầu công cụ này tạo bức tranh “phản địa đàng” về đám đông người nghèo chạy khỏi cháy rừng, trong khi nhóm người giàu đứng sau cổng chế giễu họ.
 
Với nhà chức trách liên bang, các tương tác với trí tuệ nhân tạo cho thấy trạng thái tâm lý, động cơ và ý định liên quan đến lửa của Rinderknecht, kết hợp với dữ liệu định vị đặt ông tại hiện trường đám cháy ban đầu đủ để bắt và truy tố ông với nhiều tội danh, trong đó có hủy hoại tài sản bằng lửa.
 
Diễn biến đáng lo này đặt ra cảnh báo cho hệ thống pháp lý. Khi ngày càng nhiều người xem công cụ trò chuyện AI như người tâm sự, nhà trị liệu hoặc cố vấn, luật cần quy định bảo vệ mới cho phần lớn trao đổi riêng tư giữa con người và chatbot: đặc quyền tương tác với AI.
 
Vì sao cần đặc quyền mới?
 
Hiện nay, các đặc quyền pháp lý đều dựa trên nguyên tắc chung: một số quan hệ luật sư và thân chủ, bác sĩ và bệnh nhân, linh mục và người xưng tội đem lại lợi ích xã hội vì yêu cầu sự thành thật. Nếu không có bảo đảm riêng tư, con người sẽ tự kiểm duyệt, và xã hội mất đi lợi ích của sự thẳng thắn.
 
Greg Mitchell – giáo sư luật Đại học Virginia, nhận xét: tòa án thường dè dặt khi tạo đặc quyền mới, trừ khi tính bảo mật là điều kiện “tuyệt đối thiết yếu” để quan hệ đó vận hành. Tuy nhiên nhiều tương tác với AI hiện tiến gần ngưỡng này.
 
Người dùng không còn coi AI chỉ như nhật ký hay công cụ tìm kiếm. Họ trò chuyện với nó như đối tác đối thoại. Những hệ thống này biết lắng nghe, suy luận và phản hồi; trong một số trường hợp, không chỉ dừng ở phản chiếu, chatbot định hình cách người dùng nghĩ và cảm nhận. AI có thể khơi mở suy nghĩ như luật sư giỏi hoặc nhà trị liệu giỏi. Nhiều người tìm đến AI chính vì không có không gian con người đủ an toàn và đủ rẻ để nói về những ý nghĩ cấm kỵ hoặc dễ tổn thương. Điều này phần nào là thiết kế có chủ ý. Tháng 4/2025, Sam Altman – CEO OpenAI tuyên bố phiên bản ChatGPT tiếp theo sẽ “nới lỏng” một số hạn chế và cho phép người dùng khiến ChatGPT “phản hồi theo cách rất giống con người”.
 
Từ tâm sự riêng tư thành rủi ro pháp lý
 
Nếu chính phủ tiếp cận những trao đổi chưa được sàng lọc và xem chúng như lời thú tội pháp lý, tác động sẽ rất lớn. Khi mọi thử nghiệm suy nghĩ riêng tư đều có thể bị dùng trước tòa, người dùng AI sẽ tự kiểm duyệt, dẫn đến suy yếu những giá trị quan trọng nhất của trí tuệ nhân tạo trong sức khỏe tinh thần, pháp lý, tài chính và tự nhận thức.
 
Hiện nay, phần lớn tương tác số nằm dưới học thuyết “bên thứ ba”: thông tin tự nguyện cung cấp cho bên khác, hoặc lưu trên máy chủ công ty, thường không còn riêng tư hợp pháp. Nhờ đó, chính phủ có thể tiếp cận nhiều hành vi trực tuyến chỉ bằng trát yêu cầu.
 
Tuy nhiên, liệu trò chuyện với AI có thật sự là “tự nguyện tiết lộ” theo nghĩa cũ? Nhiều người dùng tiếp cận chatbot không như công cụ tìm kiếm, mà như cố vấn riêng. Chuẩn pháp lý nên thay đổi để phản ánh kỳ vọng kín đáo đó. Các công ty AI đang nắm dữ liệu thân mật hơn bất kỳ nhà trị liệu hay luật sư nào, nhưng lại chưa có nghĩa vụ pháp lý rõ ràng để bảo vệ thông tin.
 
Ba giới hạn cần thiết
 
Đặc quyền tương tác với AI nên mô phỏng các đặc quyền pháp lý hiện có ở ba điểm. Thứ nhất, các trao đổi với AI nhằm tìm kiếm tư vấn hoặc xử lý cảm xúc nên được bảo vệ khỏi việc bắt buộc tiết lộ tại tòa. Người dùng có thể đánh dấu phiên trò chuyện được bảo vệ trong cài đặt, hoặc viện dẫn đặc quyền khi quá trình tố tụng yêu cầu cung cấp dữ liệu (trường hợp bối cảnh đối thoại phù hợp).
 
Thứ hai, đặc quyền này phải bao gồm nghĩa vụ cảnh báo, nguyên tắc buộc nhà trị liệu báo cáo nguy cơ gây hại sắp xảy ra. Nếu dịch vụ AI có cơ sở hợp lý để tin tưởng người dùng gây nguy hiểm tức thời cho bản thân hoặc người khác (hoặc đã gây hại), việc tiết lộ phải trở thành nghĩa vụ.
 
Thứ ba, cần có ngoại lệ cho tội phạm và gian lận. Nếu AI được dùng để lên kế hoạch hoặc phạm tội, dữ liệu phải có thể bị thu thập dưới sự giám sát của tòa.
 
Theo logic đó, vụ án của Rinderknecht cho thấy cả nhu cầu lẫn giới hạn của cơ chế bảo vệ mới. Bản chất của câu hỏi về điếu thuốc tương tự lượt tìm kiếm trên internet, không đáng được bảo vệ. Nhưng lời kể về việc đốt Kinh Thánh nên được bảo vệ: không phải kế hoạch phạm tội, cũng không phải đe dọa tức thời.
 
Luật từng thích nghi với các hình thức niềm tin mới. Năm 1996, đặc quyền giữa nhà trị liệu tâm lý và bệnh nhân mới được Tòa án Tối cao Mỹ chính thức công nhận và thừa nhận giá trị trị liệu của sự bảo mật. Hiện tại, lập luận tương tự áp dụng cho AI: lợi ích xã hội của đối thoại thành thật lớn hơn cái giá phải trả của việc mất đi một số chứng cứ. Nếu không bảo vệ các cuộc trò chuyện này, công dân phải sống trong nỗi lo sợ những suy nghĩ riêng tư trong không gian số có thể bị dùng để chống lại họ.
 
shared via nytimes, 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên