Giỏ hàng

Lao động vô hình phía sau tương lai AI

Ảnh: Velvet Spectrum

Trên mạng xã hội, khi cảnh báo “nội dung nhạy cảm” hiện lên với biểu tượng con mắt bị gạch chéo, người dùng chỉ cần lướt qua, rồi trở lại với video mèo, ảnh du lịch và những dòng tin được lọc sạch. Nhưng ở phía sau sự sạch sẽ ấy là thế giới khác: trong các nhà kho chật chội, thiếu sáng từ Nairobi đến Manila, từ Lebanon đến Casablanca, hàng nghìn lao động vô hình phải nhìn thẳng vào nội dung người dùng được quyền tránh né.
 
Các tập đoàn công nghệ thường miêu tả kiểm duyệt nội dung như thành tựu của AI: thuật toán âm thầm sàng lọc rác kỹ thuật số, giữ cho không gian mạng an toàn. Câu chuyện ấy tiện lợi, trấn an người dùng, biện minh cho lợi nhuận khổng lồ và chuyển trách nhiệm sang máy móc. Nhưng thực tế ít sạch sẽ hơn nhiều. AI hiện chưa thể hiểu đầy đủ sắc thái giao tiếp của con người, từ châm biếm, ngữ cảnh văn hóa đến các hình thức thù hận tinh vi. Với những ngôn ngữ ít tài nguyên, các công ty vẫn phải tuyển người bản địa, hoặc người nói được ngôn ngữ đó, để ra quyết định cuối cùng.
 
Đằng sau quyết định của AI là một con người phải gánh lấy phần phán đoán khó nhất. Amazon từng quảng bá mô hình cửa hàng tự động, nhưng The Information đưa tin hệ thống này dựa vào khoảng 1.000 lao động, chủ yếu ở Ấn Độ, nhằm theo dõi khách hàng và ghi nhận giao dịch. Amazon nói với AP và các bên khác về việc thuê người xem video nhằm xác thực hoạt động mua sắm, nhưng phủ nhận con số 1.000 và phủ nhận việc công nhân theo dõi trực tiếp khách hàng. Trợ lý “AI-powered” M của Facebook cũng từng được miêu tả có nhiều yếu tố con người hơn phần mềm. Trong nhiều trường hợp, ảo tưởng về năng lực AI được duy trì bằng lao động bị giấu kín.
 
Botlhokwa Ranta, 29 tuổi, cựu kiểm duyệt viên nội dung người Nam Phi sống ở Nairobi, nói: “Chúng tôi là lao công của internet, dọn rác để người khác được hưởng thế giới trực tuyến sạch sẽ.”
 
Những người bị mắc kẹt trong dữ liệu
 
Tháng 2/2021, Abrha, khi ấy 26 tuổi, bỏ chạy khỏi Tigray khi quê nhà bị lực lượng Ethiopia và Eritrea tấn công. Theo báo cáo của New Lines Institute tại Mỹ, cuộc xung đột Tigray bị coi như hành động diệt chủng. Abrha chỉ mang theo ba lô nhỏ và ít tiền mặt tới Nairobi, bỏ lại doanh nghiệp, gia đình và bạn bè. Trong hơn hai năm internet bị chính phủ Ethiopia cắt ở Tigray, anh sống trong bất định về số phận người thân.
 
Sau đó, anh được chi nhánh Kenya của Sama, công ty có trụ sở tại San Francisco tự giới thiệu là nhà cung cấp dữ liệu huấn luyện AI có đạo đức, tuyển dụng vì nói được tiếng Tigrinya và Amharic. Đó cũng chính là các ngôn ngữ của cuộc xung đột anh vừa trốn chạy. Năm ngày/tuần, tám giờ/ngày, Abrha ngồi trong kho của Sama kiểm duyệt nội dung từ cuộc chiến ấy: thù hận nhắm vào người Tigray, cảnh đánh bom, thi thể, bạo lực tình dục. Mỗi hình ảnh đều có thể là quê nhà, cha, chị em hay họ hàng của anh.
 
Áp lực đạo đức gần như không thể chịu nổi. Làm sao trung lập trong cuộc chiến mà quê hương mình là nạn nhân? Làm sao gắn nhãn “thù hận” cho nội dung trả đũa từ những người bị tấn công? Từng ghét thuốc lá, Abrha trở thành người hút liên tục. Đỉnh điểm khi anh nhìn thấy thi thể người họ hàng trong lúc kiểm duyệt. Sau khi Sama chấm dứt hợp đồng với anh và nhiều đồng nghiệp, Abrha không tìm được việc ở Nairobi. Vài tháng trước, dù Tigray vẫn bấp bênh, anh cảm thấy không còn lựa chọn nào ngoài trở về quê nhà.
 
Kings, 34 tuổi, lớn lên ở Kibera, một trong những khu ổ chuột lớn nhất thế giới. Anh đến với Sama như nhiều thanh niên thất nghiệp ở Nairobi: vì hy vọng bước vào ngành công nghệ. Ban đầu, anh dán nhãn dữ liệu huấn luyện AI. Khi được đề nghị chuyển sang kiểm duyệt nội dung với mức lương nhỉnh hơn, anh nhận lời. Theo anh, nội dung tồi tệ nhất là tài liệu lạm dụng tình dục trẻ em (CSAM). Ngày qua ngày, anh phải xem văn bản, ảnh và video miêu tả việc trẻ em bị xâm hại. Anh kể: “Mỗi lần nhắm mắt ở nhà, tôi chỉ thấy những thứ đó”.
 
Chấn thương phá vỡ đời sống riêng. Ở tuổi 32, Kings gặp khó khăn trong quan hệ thân mật với vợ vì những hình ảnh ấy ám ảnh. theo Kings, Hỗ trợ tâm lý của công ty quá hời hợt. Cuối cùng, anh và vợ ly hôn. Khi rời Sama, anh suy sụp cả tinh thần lẫn tài chính.
 
Ranta, cô gái 21 tuổi có con nhỏ cũng được Sama tuyển từ Nam Phi sang Nairobi với lời hứa về tương lai tốt hơn; trong cộng đồng của cô, sáu trong mười cô gái mang thai trước tuổi 21, giữa môi trường vốn khan hiếm việc làm. Sama hứa hỗ trợ cô đoàn tụ với các con, nhưng khi cô đến Kenya, lời hứa ấy không thành. Công ty nói chỉ có thể hỗ trợ một phần và trừ vào lương.
 
Công việc của Ranta là kiểm duyệt nội dung về lạm dụng tình dục phụ nữ, bài ngoại, thù hận, phân biệt chủng tộc và bạo lực gia đình, chủ yếu từ Nam Phi và Nigeria. Khi chị gái mất, cô được nghỉ vài ngày nhưng không được chuyển sang luồng nội dung ít gây chấn thương hơn, dù có vị trí trống. Trong thai kỳ phức tạp, cô cho biết không được nghỉ thai sản theo chỉ định bác sĩ. Bốn tháng sau khi sinh con gái thứ hai, đứa bé phải nhập viện. Khi ấy, Ranta phát hiện công ty ngừng đóng bảo hiểm y tế ngay sau khi cô bắt đầu làm việc, dù tiền vẫn bị khấu trừ khỏi lương.
 
CEO Sama từng bày tỏ hối tiếc vì ký hợp đồng kiểm duyệt nội dung với Meta. Meta yêu cầu các đối tác phải cung cấp hỗ trợ tại chỗ 24/7 với chuyên viên được đào tạo, dịch vụ trực và chăm sóc y tế tư nhân từ ngày đầu làm việc; đồng thời có giải pháp kỹ thuật nhằm hạn chế tiếp xúc với nội dung đồ họa. Nhưng lời kể của Abrha, Kings và Ranta cho thấy khoảng cách lớn giữa chính sách công bố và thực tế lao động.
 
Ngành công nghiệp của chấn thương
 
Những câu chuyện này không cá biệt. Trong dự án Data Workers Inquiry, lao động dữ liệu ở Đức, Venezuela, Colombia, Syria và Lebanon đều có những khó khăn giống nhau. Ở Đức, người nhập cư có tình trạng cư trú bấp bênh phải kiểm duyệt nội dung từ chính quê nhà; việc làm gắn với visa khiến họ sợ lên tiếng. Ở Venezuela và Colombia, bất ổn kinh tế đẩy nhiều người vào ngành dữ liệu. Với người Syria hoặc người tị nạn Syria ở Lebanon, công việc đôi khi chạm vào dấu vết số của cuộc chiến họ trải qua hoặc trốn chạy.
 
Các thỏa thuận bảo mật (NDA), khiến người lao động càng im lặng. Điều khoản thường nằm trong hợp đồng và tiếp tục ám ảnh sau khi họ nghỉ việc, nhiều người chỉ dám kể chuyện ẩn danh vì sợ hậu quả pháp lý.
 
Chấn thương có hai lớp. Lớp đầu là nội dung: bạo lực, lạm dụng tình dục, thù hận, hình ảnh ghê rợn. Nhiều người bị ác mộng, hồi tưởng, lo âu nghiêm trọng, mất niềm tin vào con người. Kings ví công việc như “bị ép uống thuốc độc mỗi ngày, biết nó đang giết mình nhưng không thể dừng vì đó là công việc”.
 
Lớp thứ hai là hệ thống. Người lao động sống trong bất an việc làm; hỗ trợ tâm lý thường hời hợt; chỉ tiêu hiệu suất buộc họ xem hàng trăm nội dung mỗi giờ, không có thời gian xử lý cảm xúc. Abrha nói hãy tưởng tượng phải xem video một người bị giết, rồi lập tức chuyển sang bài tiếp theo. Giám sát liên tục làm áp lực nặng hơn: phần mềm theo dõi máy tính, camera, quan sát trực tiếp, cả thời gian đi vệ sinh, khoảng nghỉ giữa nhiệm vụ và biểu cảm khuôn mặt. Người lao động có một giờ nghỉ/ngày cho ăn uống, duỗi người, vệ sinh; thời gian ngoài mức đó có thể bị cộng vào ca làm. Điện thoại phải để trong tủ, khiến họ càng bị cô lập.
 
Điều trớ trêu là con người bị tổn thương chỉ nhằm tạo ra ảo tưởng về trí tuệ máy. Các công ty đầu tư hàng tỷ USD vào thuật toán nhưng bỏ qua nhu cầu sức khỏe tâm thần cơ bản của người kiểm duyệt. Câu chuyện AI trở thành tấm màn che cho thực hành lao động phi đạo đức: đánh đổi sức khỏe con người lấy vẻ ngoài tiến bộ công nghệ.
 
Quyền lao động trong kỷ nguyên AI
 
Người lao động dữ liệu không đứng yên. Ở Kenya, họ lập African Content Moderators Union giúp kết nối lao động từ nhiều nước châu Phi. Richard Mathenge, lãnh đạo công đoàn, nói bản thân bị sa thải khỏi vị trí trưởng nhóm vì hoạt động công đoàn. Ngày 20/9, tòa án Kenya phán quyết Meta có thể bị kiện tại nước này vì việc sa thải hàng chục kiểm duyệt viên bởi nhà thầu Sama. Đồng thời, tòa giữ nguyên các phán quyết trước đó về việc Meta có thể ra tòa ở Kenya liên quan đến cáo buộc điều kiện làm việc tồi tệ. Phán quyết này có thể ảnh hưởng đến cách các tập đoàn công nghệ làm việc với kiểm duyệt viên trên toàn cầu.
 
Các trở ngại vẫn lớn: doanh nghiệp bị cáo buộc phá công đoàn, sa thải người vận động tổ chức; có lời đồn quan chức cấp cao Kenya đòi hối lộ để đăng ký công đoàn; công nhân được khuyên gia nhập công đoàn bưu chính và viễn thông, lựa chọn không phản ánh đặc thù lao động dữ liệu. Dù vậy, Mophat Okinyi, Mathenge và Kings vẫn thành lập Techworker Community Africa, vận động chống thực hành công nghệ gây hại như bóc lột lao động. Các nhóm như Siasa Place và luật sư quyền số Mercy Mutemi cũng kiến nghị Quốc hội Kenya điều tra điều kiện làm việc tại các công ty AI.
 
Giải pháp không thể chỉ là công nghệ tốt hơn. Cần chuẩn hóa toàn ngành về sức khỏe tâm thần, gồm tư vấn bắt buộc định kỳ với chuyên gia được đào tạo về chấn thương của lao động dữ liệu, kiểm tra tâm lý thường xuyên, hỗ trợ khủng hoảng 24/7 và trị liệu dài hạn sau khi nghỉ việc. Hỗ trợ phải phù hợp văn hóa, có ngôn ngữ bản địa, không thể là mô hình “kiểu chung cho tất cả”.
 
Cũng cần “trần chấn thương”, giống giới hạn phơi nhiễm bức xạ với lao động hạt nhân. Công nhân không thể tiếp xúc liên tục với nội dung cực đoan. Hệ thống phải luân chuyển giữa nội dung nặng và nhẹ, bắt buộc nghỉ sau nội dung đặc biệt gây sốc, giới hạn số ngày liên tiếp làm việc với nội dung gây chấn thương, và cho phép nghỉ phục hồi tâm lý hằng năm. Video bạo lực cực đoan phải được tính nặng hơn nhiều so với bài viết spam.
 
Tự điều chỉnh của Big Tech vẫn không đủ. Cần cơ quan giám sát độc lập gồm nhà đạo đức học, cựu lao động dữ liệu, chuyên gia sức khỏe tâm thần và nhân quyền, có quyền kiểm tra bất ngờ, đặt chuẩn ngành, xử phạt vi phạm và tạo kênh tố cáo an toàn. Tiếng nói của người lao động hiện tại và cựu lao động phải nằm ở trung tâm.
 
Công chúng cũng có vai trò. Trước khi chia sẻ nội dung gây sốc, người dùng cần nhớ kiểm duyệt viên phải xem nó. Các công cụ như ChatGPT hay DALL-E là sản phẩm của thuật toán và của vô số người kiểm duyệt, gán nhãn dữ liệu, nghệ sĩ bị khai thác tác phẩm và các trung tâm dữ liệu tiêu thụ nhiều năng lượng. Phần lớn người dùng không biết điều gì diễn ra sau các bảng tin được lọc sạch và công cụ AI được dùng mỗi ngày. Nếu biết, có lẽ họ sẽ đòi thay đổi. Hệ sinh thái số có đạo đức không thể được xây trên sự im lặng, chấn thương và phẩm giá bị bào mòn của những người lao động vô hình.
 
shared via noema, 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên