Giỏ hàng

Trực giác con người vẫn là công cụ lớn nhất của khoa học trong thời đại AI

Ảnh: Muhammad Fatchurofi/Noema

Khi trí tuệ nhân tạo ngày càng tham gia sâu vào nghiên cứu khoa học, con người dễ bị hấp dẫn bởi ý tưởng rằng máy móc có thể thay thế trực giác, sáng tạo và năng lực đặt câu hỏi của nhà khoa học. Tuy nhiên, ở rìa ngoài của tri thức, nơi chưa có công thức sẵn, trực giác được rèn luyện qua kinh nghiệm, thân thể và ý thức tự phản tư vẫn là tia lửa giúp khoa học tiến về phía trước.
 
Nơi chưa có bản hướng dẫn
 
Tại vùng ngoại ô công nghiệp của Wellington, New Zealand, OpenStar Technologies theo đuổi mục tiêu táo bạo: thiết kế lò phản ứng nhiệt hạch có thể cung cấp điện sạch ở quy mô thương mại. Ratu Mataira, nhà sáng lập kiêm CEO đặt cược vào thiết kế lò phản ứng nhiệt hạch kiểu lưỡng cực bay, trong đó nam châm sẽ giữ plasma deuterium siêu nóng, với nhiệt độ có thể sánh với lõi Mặt Trời.
 
Đây không phải nhiệm vụ đơn giản. Suốt gần một thế kỷ, các nhà vật lý hiểu khá rõ điều gì xảy ra khi các hạt hạ nguyên tử va chạm ở nhiệt độ và áp suất cực cao. Tuy nhiên, hành vi quy mô lớn của plasma trong nhiều điều kiện khác nhau vẫn là vùng biên của tri thức, nơi bản đồ khoa học được vẽ từng nét. Chính tại đây, điều tưởng như xa lạ với khoa học lại xuất hiện: trực giác.
 
Theo Mataira, khi làm việc ở tuyến đầu của thứ chưa biết, trực giác buộc phải tham gia, bởi chưa ai viết sẵn “đáp án hợp lý hoàn hảo”. Với nhóm OpenStar, trực giác không thay thế thí nghiệm, nhưng giúp định hướng câu hỏi, gợi mở giả thuyết và hình dung cách lò phản ứng vận hành.
 
Trực giác không đối lập với khoa học
 
Thông thường, ta hay xem trực giác là nhanh, chủ quan, dễ sai; còn khoa học là chậm rãi, khách quan, dựa trên bằng chứng và lý tính. Song, nếu nhìn kỹ hơn vào cách khoa học được thực hành, ranh giới này không còn sắc nét như ta tưởng. Các nhà vật lý, toán học và nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực thường phải sống trong thế giới trừu tượng nơi kinh nghiệm đời thường không chuẩn bị sẵn cho họ: plasma trong sao, cơ học lượng tử, không thời gian hay những cấu trúc toán học nhiều chiều.
 
Lịch sử khoa học cũng cho thấy trực giác từng là mồi lửa cho nhiều đột phá lớn. Albert Einstein khi 16 tuổi từng tưởng tượng mình đuổi theo tia sáng, hình dung góp phần vào thuyết tương đối hẹp. Theo nhà hóa học Friedrich August Kekulé, người phát hiện cấu trúc vòng benzene, linh cảm đến với ông trong giấc mơ.
 
Thời đại các phương pháp khoa học ngày càng được giao cho học máy và công cụ AI, việc nhận ra giá trị của trực giác con người càng trở nên quan trọng.
 
Trực giác được xây từ thân thể và ẩn dụ
 
Các nhà tâm lý học như Daniel Kahneman thường phân biệt trực giác với lý tính: trực giác thuộc “Tư duy hệ 1”, nhanh và cảm tính; còn lý tính thuộc “Tư duy hệ 2”, chậm, cân nhắc và logic. Tuy nhiên, trực giác không chỉ là cảm giác mơ hồ và được hình thành từ cách con người tương tác với thế giới bằng thân thể. Trẻ nhỏ, như nhà tâm lý học Alison Gopnik mô tả, học về quan hệ nhân quả thông qua trò chơi: đẩy, ném, chạm, quan sát vật thể biến mất rồi xuất hiện trở lại. Từ đây, chúng ta xây dựng thứ “vật lý trực giác” cho đời sống hằng ngày.
 
Vấn đề là vật lý trực giác thường sụp đổ ở biên giới tri thức. Cơ học lượng tử, thang đo vũ trụ hay toán học trừu tượng không vận hành theo cảm giác thông thường của ta. Tuy nhiên, con người có công cụ khác: ẩn dụ và phép tương tự. Theo George Lakoff và Mark Johnson, con người thường dựa vào trải nghiệm từ cơ thể, xã hội và không gian để hiểu các khái niệm trừu tượng. Khi nói “tôi tiến gần hơn đến sự hiểu biết”, ta mượn cảm giác di chuyển trong không gian để diễn đạt quá trình nắm bắt ý niệm trí tuệ.
 
Mataira cũng làm như vậy khi giải thích lò phản ứng nhiệt hạch bằng hiện tượng sương mù. Trong khí quyển, sự đảo nhiệt có thể tạo ra vùng không khí tĩnh, khiến sương đọng lại. Trong lò phản ứng của OpenStar, nam châm lơ lửng cũng tạo ra hai vùng plasma với hành vi khác nhau: một vùng êm, một vùng hỗn loạn. Phép tương tự thời tiết không chỉ giúp công chúng hiểu, mà còn giúp chính ông suy nghĩ về thí nghiệm.
 
Học cách có trực giác về điều phản trực giác
 
Ở cấp độ lượng tử, nhiều hiện tượng trái với cảm giác thường ngày. Chẳng hạn, hiệu ứng đường hầm lượng tử cho phép hạt hạ nguyên tử vượt qua rào cản mà theo trực giác thông thường không thể xuyên qua. Với kinh nghiệm đời thường, khi ném một quả bóng tennis vào tường, ta chờ đợi nó bật ngược trở lại. Nhưng trong thế giới lượng tử, vị trí của hạt không cố định như quả bóng, mà tồn tại dưới dạng trường xác suất; vì thế, hạt có thể xuất hiện ở phía bên kia rào cản.
 
Theo Carrie Weidner, giảng viên kỹ thuật lượng tử tại Đại học Bristol, khó khăn nằm ở chỗ không có vật thể quen thuộc trên bàn để minh họa cơ học lượng tử. Tuy nhiên, khi bà tham gia phát triển các “trò chơi lượng tử” dựa trên những hiện tượng như đường hầm, mục tiêu là làm cho cơ học lượng tử bớt thần bí. Khi người học được “chơi” với thế giới, họ dần xây dựng trực giác về các quy luật của thế giới đó.
 
Điều này cho thấy trực giác không cố định mà có thể được huấn luyện, mở rộng và tái cấu trúc khi con người sống đủ lâu trong miền tri thức mới.
 
AI giỏi tính toán, nhưng chưa biết hỏi đúng câu
 
Ngày nay, AI có thể vượt trội trong tính toán, nhận dạng mẫu và suy luận thống kê. Song điều phân biệt khoa học vĩ đại không chỉ là tìm ra tương quan mà là khả năng đặt câu hỏi đúng, cảm nhận chỗ nào còn bí ẩn, đề xuất cơ chế giải thích và kiên trì theo đuổi ý tưởng từ hình hài mơ hồ ban đầu đến công trình hoàn chỉnh.
 
Theo nhà khoa học nhận thức Melanie Mitchell, AI “không thể hỏi đúng câu hỏi”. Các mô hình ngôn ngữ lớn học theo cách thụ động: nhận dữ liệu, xử lý bằng thuật toán và tạo phản hồi. Con người học bằng can thiệp: thử, sai, chạm, quan sát, thay đổi điều kiện và tự hỏi vì sao. Chính thân thể và trải nghiệm giúp ta không chỉ dự đoán, mà còn hiểu.
 
Tia lửa con người trong khoa học
 
Tất nhiên, trực giác không phải chân lý. Khoa học tiến bộ vì trực giác đặt dưới ánh sáng của phân tích, hoài nghi, kiểm chứng và bằng chứng. Trái Đất không phải trung tâm vũ trụ; thời gian không trôi giống nhau ở mọi nơi; hạt có thể hành xử theo cách trái với cảm giác đời thường. Trực giác tốt phải được rèn luyện và kiểm tra.
 
Tuy nhiên, chính trực giác được nuôi dưỡng ấy vẫn là tia lửa sáng tạo của khoa học. AI có thể ghép từ ngữ mạch lạc, phát hiện mẫu hình và hỗ trợ nhà nghiên cứu. Song chưa có nhận thức về chính quá trình tư duy, chưa biết có chắc chắn hay không, đang chạm tới thực tại hay chỉ mô phỏng ngôn ngữ. Con người, với trực giác, sự tự ý thức và năng lực sáng tạo, vẫn đem đến điều mà máy móc còn thiếu.
 
Trong thời đại AI, khoa học không nên phủ nhận công cụ mới. Song cũng không nên quên khoa học, sau cùng, vẫn là nỗ lực của con người: đi vào vùng chưa biết bằng lý trí, bằng hoài nghi, và bằng cả những linh cảm được rèn luyện qua kinh nghiệm sống.
 
shared via noemamag,

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên