Giỏ hàng

Khi hôn nhân không chỉ là tình yêu


Thập niên 1930, tại vùng thượng sông Nile, nay thuộc Nam Sudan, nhà nhân học E.E. Evans-Pritchard gặp người phụ nữ Nuer đang ngồi bên túp lều tranh cùng các con. Xa xa, cha của những đứa trẻ đang chăn gia súc. Trông họ giống như gia đình bình thường. Nhưng người đàn ông ấy không phải chồng bà. Người phụ nữ này đã kết hôn với hồn ma, các con bà về mặt pháp lý là con của hồn ma đó.
 
Trong xã hội Nuer, nếu người đàn ông chết mà chưa có người thừa kế, họ hàng sẽ tìm vợ cho người đã khuất để tên tuổi của ông tiếp tục tồn tại. Người Nuer tin rằng nếu không có con nối dõi, hồn ma sẽ trở nên bất an, quấy nhiễu và gây bệnh cho người sống. Như mọi cuộc hôn nhân khác, gia đình nhà trai vẫn trả gia súc làm sính lễ cho nhà gái. Khác biệt nằm ở chỗ, những đứa trẻ sinh ra sau đó sẽ mang tên người chết, thừa kế đàn gia súc của người ấy và thực hiện các đặc quyền nghi lễ dành cho con của “người cha ma”.
 
Tập tục lạ lẫm này cho thấy hôn nhân chưa bao giờ chỉ là chuyện riêng của hai cá nhân. Trong nhiều xã hội, hôn nhân là cơ chế để duy trì dòng họ, phân bổ tài sản, xây dựng liên minh và truyền lại địa vị. Tình yêu có thể hiện diện, nhưng không phải lúc nào cũng là trung tâm.
 
Hôn nhân có nhiều hình dạng hơn phương Tây từng nghĩ
 
Trong thời gian dài, người Tây Bắc Âu thường xem mô hình hôn nhân là trật tự tự nhiên, một vợ một chồng, kéo dài suốt đời, được tôn giáo hoặc nhà nước thừa nhận, gắn với gia đình hạt nhân và người đàn ông trụ cột. Nhưng từ thế kỷ 20, các nhà nhân học bắt đầu ghi nhận những tập tục rất khác.
 
Margaret Mead trong cuốn Coming of Age in Samoa xuất bản năm 1928 miêu tả xã hội nơi thanh niên có nhiều quan hệ yêu đương trước hôn nhân. Bronislaw Malinowski trong nghiên cứu năm 1929 về quần đảo Trobriand viết về kiểu “hôn nhân thử”, nơi các đôi trẻ sống cùng nhau vài năm trong nhà dành cho người chưa kết hôn. Nếu hợp, họ tiến tới hôn nhân. Nếu không, quan hệ có thể tan rã khá dễ dàng. Hình thức ấy khá giống hẹn hò hiện đại.
 
Đến năm 1967, George Murdock và Douglas R. White công bố Ethnographic Atlas, tập hợp dữ liệu của hơn 1.200 nền văn hóa. Hai năm sau, họ chọn ra 186 xã hội độc lập về văn hóa và phân tán về địa lý trong Standard Cross-Cultural Sample. Trong số này, chỉ 31 xã hội theo chế độ một vợ một chồng, 153 xã hội cho phép người đàn ông có nhiều vợ, 2 xã hội cho phép phụ nữ có nhiều chồng.
 
Điều đó cho thấy phần lớn nhân loại không sống theo khuôn mẫu hôn nhân châu Âu. Có nơi hôn nhân được thánh hóa bởi tôn giáo hoặc nhà nước. Có nơi hôn nhân chỉ đơn giản bắt đầu khi hai người sống chung. Có nơi hôn nhân do cá nhân lựa chọn. Có nơi do gia đình sắp đặt hoặc cưỡng ép. Có xã hội cho phép cả nam và nữ ly hôn, tái hôn tự do; có xã hội chỉ đàn ông được quyền đó.
 
So với thế giới động vật, con người còn kỳ lạ hơn. Chỉ khoảng 9% loài động vật có vú hình thành quan hệ đôi lứa lâu dài. Nhưng con người đặc biệt ở chỗ, cha mẹ, anh chị em và họ hàng thường can thiệp sâu vào việc kết hôn. Có nơi hôn nhân được sắp đặt từ khi trẻ còn nhỏ. Có nơi nam nữ bị tách biệt để hạn chế tiếp xúc. Hôn nhân vì thế hiếm khi là lựa chọn thuần túy cá nhân.
 
Khi người săn bắt hái lượm có thể “bước đi”
 
Trong khoảng 280.000 năm, tức phần lớn lịch sử Homo sapiens, con người sống bằng săn bắt hái lượm. Ở các nhóm như BaYaka trong rừng Congo, hôn nhân có thể diễn ra rất đơn giản. Đôi trẻ yêu nhau cùng đi vào rừng vài ngày, rồi trở về và dựng lều chung. Không có nghi lễ, không lời thề, chỉ có sự thừa nhận rằng họ đã ở cùng nhau.
 
Người đàn ông có thể thực hiện “lao dịch cho nhà vợ”, sống cùng gia đình người yêu khoảng một năm, săn bắn và lấy mật ong với cha vợ. Nhưng quan hệ cũng có thể tan rã dễ dàng. Họ chỉ cần rời đi, dựng lều với người khác, kể cả khi đã có con nhỏ.
 
Sự linh hoạt này gắn với đặc điểm của xã hội săn bắt hái lượm. Họ di chuyển nhiều, ít tích lũy của cải, thịt săn được nhanh chóng chia sẻ, mạng lưới chăm sóc trẻ không đặt toàn bộ gánh nặng lên cha ruột. Bà ngoại, anh chị em và họ hàng thường hỗ trợ người mẹ nhiều hơn. Vì không có tài sản lớn để thừa kế, việc có con với nhiều người khác nhau ít tạo ra xung đột sở hữu. Khi không còn muốn ở lại, con người có thể rời đi theo nghĩa rất thực tế.
 
Nông nghiệp, tài sản và đa thê
 
Cách đây khoảng 12.000 năm, nông nghiệp xuất hiện và làm thay đổi gần như mọi thứ. Gia súc, đất đai, mùa màng cần được bảo vệ. Con người ít di chuyển hơn. Của cải có thể tích lũy. Bất bình đẳng bắt đầu hình thành. Khi đó, hôn nhân cũng thay đổi.
 
Ở các xã hội chăn nuôi phía bắc Kenya, người đàn ông giàu có với hơn 100 con bò có thể nuôi nhiều gia đình. Năm 1948, Imana người Turkana có 13 con với bốn người vợ cùng lúc. Người hàng xóm chỉ có 10 con bò chỉ có một vợ và ít con hơn. Logic rất đơn giản, nhiều bò hơn, nhiều vợ hơn, nhiều con hơn.
 
Nhưng đa thê không chỉ phản ánh ham muốn của đàn ông. Phụ nữ cũng có tính toán riêng. Trong xã hội nghèo, làm vợ hai hoặc ba của người đàn ông giàu có đôi khi có lợi hơn làm vợ duy nhất của người đàn ông nghèo. Con cái của người cha giàu có có thể được nuôi dưỡng tốt hơn, thừa kế nhiều hơn, có vị thế cao hơn.
 
Khi một số đàn ông có nhiều vợ, phụ nữ trở thành nguồn lực khan hiếm mà đàn ông phải cạnh tranh. Gia đình có con gái có thể đòi sính lễ, từ vài con bò đến cả gia sản lớn. Trong xã hội Chagga ở Tanzania thời thuộc địa, sính lễ có thể gồm 62 vò bia, 4 con dê bị giết thịt, 3 con dê sống, 15 bầu sữa và nửa con bò. Đó mới chỉ là phần đặt cọc trước đám cưới. Sau cưới còn nhiều nghĩa vụ khác dành cho cha, mẹ, chú bác, bà và anh em của cô dâu.
 
Tài sản cũng khiến thừa kế trở thành vấn đề trung tâm. Ở nhiều xã hội chăn nuôi, của cải truyền theo dòng nam, vì con trai có thể dùng tài sản để cưới thêm vợ và có thêm con. Cùng lúc, quyền tự do của phụ nữ bị kiểm soát chặt hơn. Với đàn ông, điều quan trọng là phải biết đứa trẻ có thực sự là con mình hay không, vì tài sản sẽ được truyền lại cho con.
 
Một vợ một chồng và chuyện thừa kế
 
Vậy vì sao châu Âu và nhiều khu vực châu Á lại phát triển mô hình một vợ một chồng dù vẫn bất bình đẳng? Tôn giáo, nhất là Kitô giáo, thường được xem là nguyên nhân. Nhưng giới hạn đa thê đã xuất hiện trước Kitô giáo rất lâu. Khoảng năm 1750 TCN, Bộ luật Hammurabi chỉ cho đàn ông Babylon lấy vợ thứ hai trong vài trường hợp hiếm, chẳng hạn khi vợ đầu không thể sinh con. Hy Lạp và La Mã cổ đại cũng chỉ công nhận hôn nhân một vợ một chồng về mặt pháp lý.
 
Cách giải thích khác nằm ở tài sản. Với đất nông nghiệp, chia nhỏ quá mức có thể làm giảm năng suất và phá vỡ giá trị của điền sản. Khi không còn đất mới để mở rộng, nhiều xã hội chọn chiến lược trao tài sản cho người thừa kế chính. Trong mô hình ấy, người đàn ông cần chắc chắn đứa con thừa kế là con mình. Phụ nữ đổi sự chung thủy lấy cam kết rằng chỉ con của họ là người thừa kế hợp pháp.
 
Vì vậy, trinh tiết được coi trọng, ly hôn bị hạn chế, con ngoài giá thú bị loại khỏi thừa kế. Trong khi các xã hội đa thê xem phụ nữ là nguồn lực khan hiếm, các xã hội một vợ một chồng bất bình đẳng lại khiến đàn ông giàu trở thành nguồn lực khan hiếm. Khi đó, con gái trở thành gánh nặng tài chính, vì gia đình phải cấp của hồi môn để cạnh tranh lấy người chồng có tài sản.
 
Tuy nhiên, các chuẩn mực có thể bền hơn nguyên nhân đã tạo ra chuẩn mực. Khi xã hội thay đổi, hôn nhân một vợ một chồng vẫn tiếp tục tồn tại, nhưng chức năng ban đầu về thừa kế và kiểm soát tài sản dần phai nhạt.
 
Khi các hệ thống hôn nhân tan rã
 
Trong xã hội phương Tây hiện đại, hôn nhân trở nên khó phân loại hơn. Nhiều người vẫn một vợ một chồng và có con với bạn đời. Nhưng nhiều người ly hôn, tái hôn, sống thử trước hôn nhân hoặc chọn các hình thức quan hệ mở. Đa thê thường bất hợp pháp, nhưng một số đàn ông giàu sau ly hôn hoặc góa vợ vẫn có thể cưới người trẻ hơn và có thêm con.
 
Điều thay đổi lớn nhất là sự suy yếu của kiểm soát gia đình. Các cặp đôi tự chọn nhau, thường vì tình yêu. Sính lễ, của hồi môn và hôn nhân sắp đặt giảm vai trò. Trường học, đô thị hóa, điện thoại di động và di cư khiến nam nữ gặp gỡ, trò chuyện riêng và kết hôn ngoài khuôn khổ truyền thống dễ hơn. Khi bên thứ ba ít can thiệp hơn, hôn nhân cũng dễ bắt đầu và dễ kết thúc hơn.
 
Tài sản và thừa kế cũng thay đổi. Ở nhiều nước phương Tây, con ngoài giá thú không còn bị phân biệt, con cái thừa kế từ cả cha lẫn mẹ, phụ nữ đi làm và có thu nhập riêng. Phụ nữ không còn phải đổi sự chung thủy lấy an toàn kinh tế như trước. Đàn ông khi ly hôn cũng có thể tin rằng con cái vẫn được mẹ, gia đình, nhà nước và thị trường lao động hỗ trợ.
 
Từ hôn nhân với hồn ma của người Nuer đến hôn nhân thử ở Trobriand, từ đa thê trong xã hội chăn nuôi đến một vợ một chồng gắn với thừa kế đất đai, hôn nhân luôn biến đổi theo môi trường sống. Hôn nhân không phải khuôn mẫu bất biến, đây là công cụ để con người tổ chức quan hệ, kiểm soát tài sản, nuôi dạy con cái và duy trì dòng họ. Trong thế giới hiện đại, khi nhiều ràng buộc kinh tế và gia đình đã lỏng hơn, thứ còn giữ nhiều người ở lại với nhau có lẽ ngày càng gần với điều mà các xã hội truyền thống từng đặt ở vị trí thứ yếu, đó là tình yêu.
 
shared via worksinprogress,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên