Bản đọc thử Apple in China
24/09/25
... Danh tiếng của Cook nhanh chóng vượt ra ngoài khuôn viên Apple. Khi Jon Rubinstein, giám đốc phần cứng của Apple, mời Cook sang Hà Lan đàm phán với công ty Lucent, khi đó đang tìm cách biến Wi-Fi thành tiêu chuẩn, Cook đã thể hiện khả năng thương lượng khiến Rubinstein phải kinh ngạc. Thời điểm ấy Apple còn chưa phải công ty lớn, nhưng Cook vẫn nắm được mọi khía cạnh hoạt động của Lucent để xác định chi phí thực, từ đó đưa ra mức giá “ép” thấp mà vẫn thuyết phục được họ tin rằng sẽ có lãi khi sản xuất quy mô lớn. Rubinstein nói: “Tim chốt giá cực gắt. Cảm giác chẳng khác gì một cuộc khám trực tràng.”
Song song đó, Cook chiêu mộ đồng minh có kinh nghiệm tương tự, áp dụng phong cách của mình trên toàn bộ khối vận hành. Ông tuyển Bill Frederick điều hành mảng Logistics, Jeff Williams dẫn dắt mảng Mua sắm (Procurement) và Jacky Haynes phụ trách mảng Quy trình Kinh doanh (Business Processes). Cả ba đều có hơn 10 năm làm việc tại IBM và đều có MBA từ Duke. Đó mới chỉ là phần nổi của tảng băng. Quá nhiều người từng làm ở IBM đổ về Cupertino đến mức các lãnh đạo Big Blue đùa rằng Apple là “IBM miền Tây”.
Cook thường hướng dẫn đồng nghiệp phải “mạnh mẽ và phi lý” khi đàm phán với nhà cung ứng. Max Paley, khi đó là phó chủ tịch phụ trách đồ họa, nhớ lại lúc đầu ông không thực sự hiểu điều này nghĩa là gì. Cook thường nói chậm rãi, nhấn từng chữ: “Đừng… bao… giờ… sợ… phải… phi lý.” Nghe vậy, Paley tự hỏi: Có phải Cook bảo mình cư xử như một kẻ khó chịu? Nhưng về sau ông mới hiểu và tôn trọng ý này. Paley kể: “Thực ra, ông ấy muốn nói rằng con người – kể cả trong đàm phán kinh doanh – thường cố đoán xem: ‘Yêu cầu gì là hợp lý? Họ có thể đáp ứng được gì?’ Còn ông ấy thì kiểu: ‘Anh đâu có biết! Anh không hề biết nhà cung ứng thực sự có thể làm được tới đâu. Vậy đừng ngại đòi cả cô tiên. Đòi mọi thứ mình muốn. Đòi mọi thứ mình cần. Nếu họ không làm được, họ sẽ nói không.’”
Foxconn chính là phép thử sớm cho cách tiếp cận này. Trong nỗ lực giảm rủi ro cho hoạt động sản xuất iMac khỏi sự phụ thuộc vào LG bằng cách tìm nhà lắp ráp thứ hai, cuối năm 1999, Apple đã “đòi cả cô tiên” – và Foxconn, muốn chơi trận dài hạn, sẵn sàng làm bất kỳ điều gì để có được đơn hàng. Một kỹ sư cao cấp trong dự án iMac đầu tiên nói: “Quách Đài Minh tập trung không ngừng vào việc làm mọi thứ cần thiết để Apple thành công. Ông Quách có tầm nhìn dài hạn. Ông ấy sẵn sàng hy sinh bất kỳ thứ gì trong những ngày đầu gian khó – dù là biên lợi nhuận hay đời sống cá nhân của nhân viên – để dự án đó thành công. Ông có một viễn kiến. Tôi nghĩ ông ấy nhìn thấy thành công dài hạn của Apple, thậm chí trước cả khi Apple nhận ra.”
… Khi Apple tăng trưởng theo cấp số nhân, hãng lại càng gắn chặt sản xuất vào Trung Quốc. Một số thiết bị ngoại vi như bàn phím, dây cáp được chuyển sang Việt Nam, nơi lao động rẻ hơn. Nhưng đây chỉ là động thái chiến thuật để tiết kiệm chi phí, không phải bước đi chiến lược nhằm giảm rủi ro phụ thuộc Trung Quốc. Các lãnh đạo Apple cho rằng tập trung vào Trung Quốc sẽ có lợi cho mình – “hãy nhìn xem chúng tôi tạo ra bao nhiêu việc làm!” – nhưng cách nhìn của Ford về văn hóa Trung Quốc lại tinh tế hơn. Ông nói: “Họ gọi là khoai tây to, khoai tây nhỏ. Đó là phép ẩn dụ về địa vị xã hội.” Đúng là Apple tạo ra nhiều việc làm, nhưng đồng thời cũng kiếm bộn tiền, nên mọi thứ cân bằng lại – Trung Quốc chẳng “mắc nợ” gì Apple. Việc tạo công ăn việc làm không giúp Apple có thêm đòn bẩy; điều này chỉ khoét sâu sự mong manh và củng cố thực tế rằng Apple chỉ là củ khoai nhỏ. Ford nói: “Tôi nghĩ Apple không thực sự hiểu Trung Quốc. Chính phủ Mỹ cũng thế. Họ chẳng hiểu cách người Trung Quốc vận hành, cũng chẳng hiểu cách chính quyền Trung Quốc làm việc. Chúng ta tiếp cận mọi thứ bằng tư duy công bằng kiểu phương Tây. Người Trung Quốc tiếp cận bằng thế lực vị thế – ai mạnh hơn thì thắng.”
… Apple đặt ra nguyên tắc: không để nhà cung ứng nào phụ thuộc quá 50% doanh thu vào Apple. Sự lệ thuộc thái quá dễ tạo rắc rối, vì Cupertino vốn hay thay đổi hướng đi. Nếu chẳng hạn, một công ty có tới 80% doanh thu từ linh kiện cho iPhone mà Apple bất ngờ thay đổi thiết kế khiến linh kiện đó không còn cần nữa, công ty ấy có thể sụp đổ. Thực tế, nhiều công ty đã phá sản như vậy, gây phiền toái cho Apple, từ những dòng tít tiêu cực trên báo chí cho tới sự oán giận của các nhà cung ứng. Vì thế, Apple học cách tìm “điểm ngọt”: trở thành khách hàng quan trọng nhất của nhà cung ứng để có lợi thế, nhưng không đến mức khiến họ quá lệ thuộc.
Kết quả, như một lãnh đạo cấp cao nói: “Apple tăng trưởng với tốc độ nào, họ buộc phải tăng trưởng với người khác cũng ở tốc độ ấy.” Vậy nên khi số iPhone bán ra tăng vọt, Apple lại khuyến khích các nhà cung ứng tại Trung Quốc phục vụ cả thị trường Android. Hệ quả là chính Apple đã khai sinh ngành smartphone Trung Quốc. Năm 2009, phần lớn smartphone bán ở Trung Quốc vẫn do Nokia, Samsung, HTC và BlackBerry sản xuất. Nhưng khi Apple huấn luyện chuỗi cung ứng cách hoàn thiện kính cảm ứng đa điểm và chế tác hàng nghìn linh kiện bên trong iPhone, các nhà cung ứng liền dùng kiến thức ấy để phục vụ các hãng nội địa như Huawei , Xiaomi, Vivo và Oppo. Kết quả: thị phần smartphone của các thương hiệu Trung Quốc nhảy vọt, từ 10% năm 2009 lên 35% năm 2011, tới 74% năm 2014. Không hề quá lời khi nói iPhone không giết Nokia; chính những “bản sao” iPhone của Trung Quốc đã làm điều đó. Những bản sao ấy tốt đến vậy vì Apple đã đào tạo toàn bộ chuỗi cung ứng cho họ. Cook không muốn Apple trở thành “nhà phát triển cho cả thế giới”, và đúng là không phải vậy. Nhưng Apple đã trở thành “nhà phát triển cho Trung Quốc”.
… Tim Cook và COO Jeff Williams đều mặc vest tối màu, sơ mi trắng, thắt cà vạt xanh dương cùng tông. Bức ảnh do báo chí Trung Quốc chụp cho thấy hai người đứng trong tư thế chắp tay trước bụng, dáng điệu trang trọng phù hợp với sự kiện mang tính sinh tử. Đứng sau họ là Lisa Jackson – lãnh đạo mảng Môi trường, Chính sách và Sáng kiến Xã hội trong bộ blazer đen. Williams nhíu mày, gương mặt căng thẳng có phần lo lắng. Jackson giữ vẻ nghiêm nghị, điềm tĩnh. Còn Cook trông thoải mái, từng trải, tự tin hơn hẳn. Ba lãnh đạo cấp cao này đang có mặt tại Trung Nam Hải, tổng hành dinh của ĐCSTQ. Tháng 3/2012, Cook từng đến đây, khi ông gặp Phó thủ tướng Lý Khắc Cường , người chỉ một năm sau đó trở thành nhân vật số hai trong bộ máy của Tập Cận Bình.
Khu phức hợp được canh gác nghiêm ngặt, nằm giữa trung tâm Bắc Kinh gần Tử Cấm Thành, là địa điểm đặc biệt để tiếp các giám đốc từ một tập đoàn Mỹ. Trung Nam Hải vốn là vùng cấm đối với công chúng. Năm 1958, tại đây, Mao Trạch Đông từng nói với đại sứ Liên Xô rằng ông sẵn sàng huy động toàn dân Trung Quốc cho một cuộc đại chiến thế giới mà ông tin sẽ bùng nổ trong vòng 10 năm. Đây cũng từng là nơi tiếp đón nhiều nhân vật ngoại giao tầm cỡ, từ Che Guevara đến Richard Nixon . Giờ đây, tháng 5/2016, Bắc Kinh triệu tập ba lãnh đạo cao nhất của Apple đến đó.
… Khi bộ ba lãnh đạo Apple bay sang Bắc Kinh, họ bước vào chế độ “dập lửa khủng hoảng”. Cook và cộng sự đến gặp Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia , cơ quan hoạch định kinh tế của Trung Quốc. Họ không chỉ chuẩn bị kỹ lưỡng mà còn sẵn sàng ký một thỏa thuận phi thường: cam kết đầu tư 275 tỷ USD vào Trung Quốc trong vòng 5 năm tới. Cuộc gặp này nằm trong chiến dịch rộng hơn: từ bỏ truyền thống kín tiếng và bắt đầu phô bày cho Bắc Kinh thấy tầm ảnh hưởng nền tảng của Apple đối với ngành công nghệ Trung Quốc. Điều này phản ánh sự thành công của Bộ tám quyền lực và đội ngũ phụ trách quan hệ chính phủ trong việc điều chỉnh câu chuyện kinh doanh của Apple sao cho khớp với ngôn ngữ mà Bắc Kinh muốn nghe. Trong khi Guthrie chủ trương phát đi thông điệp thật lớn tiếng, Cook chọn con đường khác: thì thầm với nhóm quan chức cấp cao. Rõ ràng đây là bước đi chính trị cần thiết. Khi ấy, Donald Trump đang vận động tranh cử tổng thống với khẩu hiệu “Nước Mỹ trên hết”, dọa áp thuế 45% lên hàng nhập khẩu Trung Quốc và hùng hồn tuyên bố: “Chúng ta sẽ bắt Apple phải sản xuất cái máy tính chết tiệt của họ ở ngay trên đất Mỹ!” Peter Navarro – một trong các cố vấn thân cận của Trump thậm chí còn đồng tác giả cuốn sách Death by China (Chết dưới tay Trung Quốc, 2011). Nếu Cook dám mở họp báo ngay tại Trung Nam Hải, đó chẳng khác nào tự sát.
Khung cảnh hôm ấy thật phi thường. Các lãnh đạo Apple đứng chờ gần cổng chính phết sơn đỏ, đề tên Tân Hoa Môn . Hai bên cổng treo dải biểu ngữ: “Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại muôn năm” và “Tư tưởng Mao Trạch Đông vô địch muôn năm.” Khung cảnh ấy phơi bày sự thay đổi chóng mặt kể từ năm 2000, khi những chiếc iMac sản xuất tại Trung Quốc đầu tiên bước ra dây chuyền. Khi đó, Washington còn khuyến khích Bắc Kinh gia nhập WTO, nhiều quan chức tin rằng thương mại sẽ trao quyền cho tầng lớp trung lưu và biết đâu làm lật đổ sự lãnh đạo của ĐCSTQ. Thực tế, dòng vốn ngoại lại khiến Đảng thêm vững mạnh. Và không tập đoàn nào đầu tư nhiều hơn Apple. Đó chính là thông điệp các lãnh đạo Apple mang tới hôm nay.
Cam kết 275 tỷ USD của Apple lớn đến mức mọi khoản đầu tư doanh nghiệp khác đều trở nên mờ nhạt. Hãy so sánh với Đạo luật CHIPS và Khoa học, chính sách trọng điểm của chính quyền Biden mà Gina Raimondo – Bộ trưởng Thương mại khi đó gọi là “khoản đầu tư của cả một thế hệ” – thứ được kỳ vọng “mở ra kỷ nguyên mới cho vị thế dẫn đầu của Mỹ trong sản xuất bán dẫn tân tiến”. Đạo luật này vốn nhằm thúc đẩy năng lực chế tạo chip tại Mỹ, dự kiến tiêu tốn của chính phủ 52 tỷ USD trong bốn năm, ít hơn 3 tỷ USD so với số Apple bỏ ra hằng năm ở Trung Quốc gần một thập kỷ trước. Xin nhấn mạnh: chỉ trong một năm, Apple đầu tư tại Trung Quốc ít nhất gấp bốn lần con số mà Bộ trưởng Thương mại Mỹ coi là “khoản đầu tư của cả một thế hệ”.
Chỉ riêng số vốn Apple hứa sẽ rót vào Trung Quốc trong 5 năm tới đã nhiều hơn tổng vốn đầu tư tư nhân Canada và Mỹ đổ vào Mexico từ khi ký NAFTA năm 1993 đến tận năm 2020. Quy mô ấy thậm chí vượt cả những chương trình “kiến quốc” được chính phủ hậu thuẫn lớn nhất từ trước đến nay. Chẳng hạn, trong gần ba thập kỷ giai đoạn 1979–2007, Quỹ Hợp tác Kinh tế Hải ngoại Nhật Bản cấp 2,54 nghìn tỷ yên dưới dạng cho vay – tương đương khoảng 30 tỷ USD tính theo giá năm 2016 – để hỗ trợ phát triển Trung Quốc. Ezra Vogel, nhà viết tiểu sử Đặng Tiểu Bình, nhận xét về khoản viện trợ này: “Trong thời kỳ Đặng nắm quyền, không nước nào đóng vai trò lớn hơn Nhật Bản trong việc giúp Trung Quốc xây dựng công nghiệp và hạ tầng.”
Hãy lấy Kế hoạch Marshall năm 1948 làm đối chứng. Khi ấy, Mỹ chi 13,3 tỷ USD trong bốn năm để thúc đẩy tái thiết sau Thế chiến II tại 16 nước châu Âu – tương đương 131 tỷ USD theo giá năm 2016. Người đứng đầu chương trình từng gọi đây là “hành động hào phóng nhất mà một dân tộc từng dành cho một dân tộc khác, ở bất kỳ thời điểm nào, bất kỳ nơi đâu”. Thế nhưng Apple, chỉ riêng ở Trung Quốc chứ không phải 16 quốc gia, cam kết với Bắc Kinh đầu tư gấp đôi con số đó trước năm 2021. Các ước tính cho thấy mỗi USD trong Kế hoạch Marshall đã kích thích thêm 4–6 USD sản lượng ở châu Âu. Như nhà sử học Niall Ferguson nhấn mạnh, món quà này “đóng vai trò quan trọng trong việc đưa châu Âu thoát khỏi hệ thống quan hệ lao động đầy rẫy đình công và xung đột giai cấp để chuyển sang nền tảng dựa trên kìm hãm tiền lương và tăng trưởng năng suất.”
Mục tiêu của Cook là truyền đi thông điệp tương tự, chứng minh với quan chức Trung Quốc rằng thành công của Apple tại đây tạo hiệu ứng lan tỏa khắp ngành điện tử tân tiến. Thông qua việc đầu tư và huấn luyện các nhà cung ứng, Apple gieo vào họ cả kỹ năng thực hành lẫn tri thức trừu tượng, vốn áp dụng vượt xa nhu cầu riêng của Apple. Đúng là điều này không hẳn có chủ đích, chuỗi cung ứng của Apple không được thiết kế để khuyến khích sáng tạo ở nhà cung ứng. Nhưng kết quả lại chính xác như thế. Khoản đầu tư của Apple không chỉ khổng lồ mà còn được triển khai hiệu quả một cách tàn nhẫn, tập trung hẹp vào lĩnh vực điện tử tân tiến – “rõ ràng là điều quan trọng bậc nhất mà Tập mong muốn”, theo học giả Barry Naughton. Khi được diễn giải bằng “ngôn ngữ bản địa” thích hợp, tác động này trở thành sự ủng hộ mạnh mẽ cho tham vọng của Bắc Kinh: học hỏi phương Tây và leo lên nấc thang giá trị cao hơn.
… Chính xác những gì bộ ba lãnh đạo Apple nói với giới chức Bắc Kinh hôm ấy không ai rõ. Nhưng thông điệp họ muốn gửi đi rất trực diện: Apple không chỉ tạo ra hàng triệu việc làm tại Trung Quốc; hãng còn nuôi dưỡng cả ngành công nghiệp bằng cách thúc đẩy cuộc chuyển giao vĩ đại về “tri thức ngầm” – loại kiến thức khó định nghĩa nhưng mang tính thực tiễn: “nghệ thuật làm ra sản phẩm, tổ chức công việc thực tế, và cách con người sản xuất, phân phối, đi lại, giao tiếp, tiêu dùng”, theo định nghĩa của Yi Wen, chuyên gia kinh tế gốc Hoa tại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed ). Với Yi, chính sự tiếp nhận tri thức ngầm này, không phải dân chủ hay quyền sở hữu tài sản, mới là “công thức bí mật” đằng sau cuộc Cách mạng Công nghiệp Anh thế kỷ 18, cũng như sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bốn thập kỷ qua. Nói đơn giản hơn, trích lời nhà kinh tế Harvard quá cố David Landes : “Nếu lợi ích từ trao đổi hàng hóa đã lớn, vẫn chẳng thấm vào đâu so với lợi ích từ trao đổi ý tưởng.”
Dù các lãnh đạo Apple gặp khó khăn trong khâu soạn thảo, văn bản ấy rốt cuộc đã đạt được mục đích. “Đó là bản nhạc lọt tai Bắc Kinh”, một lãnh đạo Apple từng tham gia đàm phán nói. Bắc Kinh đã bỏ ra nhiều thập kỷ để đuổi kịp phương Tây trong công nghiệp tân tiến, nghiên cứu khoa học và sức mạnh kinh tế. Họ thường dựa vào gián điệp, ăn cắp trắng trợn hay những biện pháp ép buộc. Đôi khi là các ván cờ tinh vi, chẳng hạn cho nhiều nhóm đường sắt cao tốc cạnh tranh cùng lúc để giành hợp đồng lớn, rồi gom nhặt công nghệ từ từng nhóm và tổng hợp thành thứ gọi là “sáng tạo mới”. Hoặc họ lôi kéo chuyên gia từ nước ngoài, như chương trình Nghìn Nhân tài – dự án chính phủ tài trợ nhằm mời chất xám về Trung Quốc. Nhưng lần này, biểu tượng công nghệ lẫy lừng nhất nước Mỹ lại tự nguyện đóng vai Prometheus, dâng tặng ngọn lửa cho Trung Quốc.
đặt mua sách: tại đây



