Giỏ hàng

Chiến tranh phơi bày lỗ hổng giấc mơ năng lượng sạch Ấn Độ

Các tuabin gió tại ngôi làng gần Kayathar, Ấn Độ. Ảnh: Saumya Khandelwal 
 
Ấn Độ đầu tư mạnh vào điện mặt trời và điện gió. Nhưng khi chiến sự Iran làm gián đoạn dầu khí nhập khẩu, điều lộ ra không phải sức mạnh của quá trình chuyển đổi xanh, mà là điểm yếu của lưới điện vẫn chưa theo kịp tham vọng.
 
Năm ngoái, Ấn Độ đạt cột mốc đáng tự hào: sau nhiều năm dựng lên các công viên điện mặt trời và trang trại gió trên khắp đất nước, New Delhi tuyên bố có thể đáp ứng hơn một nửa nhu cầu điện từ các nguồn tái tạo. Với nền kinh tế đang phình to và dân số 1,4 tỷ người, đó là thành tựu không nhỏ.
 
Song sản xuất được điện và đưa điện đến đúng nơi, đúng lúc, với giá chấp nhận được, là hai chuyện khác nhau. Chính trong khoảng cách giữa hai chuyện đó, cuộc chiến ở Iran khiến toàn bộ chiến lược năng lượng Ấn Độ lộ ra sự thật: quốc gia này có thể xây dựng tương lai xanh hơn, nhưng hiện tại vẫn mong manh, lệ thuộc và dễ tổn thương.
 
Thành công năng lượng tái tạo chưa phải chiến thắng hệ thống
 
Đầu tư của Ấn Độ vào năng lượng tái tạo là thật và quy mô lớn. Cuối năm ngoái, nước này có 55 công viên điện mặt trời, trong đó có một khu trải dài trên 14.000 mẫu sa mạc. Riêng các trang trại điện mặt trời đã sản xuất 40 gigawatt điện, đủ cấp năng lượng cho khoảng 80 triệu hộ nông thôn. Từ mái nhà đến đồng trống, các tấm pin xuất hiện ở khắp nơi. Ấn Độ thậm chí tuyên bố đạt mục tiêu có thể đáp ứng 50% nhu cầu điện từ nguồn tái tạo sớm hơn dự kiến.
 
Tuy nhiên, điện mặt trời và điện gió không chảy theo lệnh. Chúng phụ thuộc vào nắng và gió, chứ không phụ thuộc vào giờ bữa tối, ca sản xuất đêm hay nhu cầu đỉnh điểm của thành phố. Vấn đề cốt lõi của Ấn Độ vì vậy không còn là làm ra thêm điện xanh, mà là lưu trữ phần điện dư lúc sản xuất cao điểm và phân phối ổn định khi người dân cần bật bếp, nhà máy cần chạy máy và doanh nghiệp cần giữ đèn sáng. Ở điểm này, lưới điện Ấn Độ vẫn ì ạch, cũ kỹ và đi sau nhu cầu. Pin lưu trữ và đường truyền tải không xây đủ nhanh. Hệ thống chưa theo kịp tham vọng.
 
Hệ quả là chỉ khoảng 1/4 lượng điện từ các nguồn mới thực sự đến được tay người dùng, so với hơn một nửa ở Trung Quốc. Khoảng chênh lệch ấy nói lên tất cả. Ấn Độ có thể dựng rất nhiều công suất, nhưng nếu lưới điện không đủ thông minh, đủ dày và đủ linh hoạt để hấp thụ, thì thành tựu ấy mới chỉ nằm trên giấy tờ và trong các bài phát biểu.
 
Khi chiến tranh ở xa làm rung chuyển nền kinh tế ở gần
 
Chiến sự Iran làm lộ rõ sự phụ thuộc còn lại ấy. Khi nguồn dầu khí nhập khẩu bị nghẽn, Ấn Độ buộc phải trông cậy nhiều hơn vào điện tái tạo. Nhưng chính lúc ấy, giới hạn của hệ thống điện mới hiện ra. Nền kinh tế vốn đói năng lượng lại thiếu lưới điện đủ sức chuyển hóa công suất tái tạo thành nguồn cung ổn định.
 
Ấn Độ vẫn phải dựa vào dầu và khí đốt từ Vùng Vịnh để lấp khoảng trống giữa cung và cầu điện. Khi nguồn cung ấy bị gián đoạn, cú sốc lan khắp nền kinh tế. Đồng rupee yếu đi khi giá dầu tăng lên mức trung bình 120 USD/thùng ở Ấn Độ. Các ngành tiêu tốn nhiều năng lượng bắt đầu sa thải lao động. Nhà máy thép, gốm sứ, dệt may phải giảm sản lượng. Điều từng được xem là vấn đề kỹ thuật của lưới điện lập tức biến thành vấn đề tăng trưởng, việc làm và ổn định xã hội.
 
Ở những thành phố vệ tinh quanh New Delhi như Gurugram, cú sốc ấy có thể đo bằng bữa tối. Ujjwal Sikdar và vợ là Mitthu, những lao động nhập cư, phải quay lại nấu bằng củi khi giá gas chợ đen tăng gấp bốn. Mitthu, một người giúp việc kiếm khoảng 220 USD mỗi tháng, nói chồng bà phải đi bộ ra ngoài thành phố nhặt cành cây về đun. Khói, muội và thời gian bị kéo dài đến kiệt sức. Bà thôi không làm bánh mì cho chồng con, chỉ còn nấu cơm và đậu. Điện quá đắt, lại chập chờn đến mức bếp điện không thể là giải pháp. Với những gia đình như thế, chuyển đổi năng lượng không phải cuộc tranh luận về công nghệ. Nó là câu hỏi sống còn về khả năng nấu một bữa ăn mà không hít quá nhiều khói.
 
Nút thắt không nằm ở nắng, mà ở thời điểm
 
Đây là lý do ngày càng nhiều người trong ngành năng lượng Ấn Độ nói đến cấp độ chuyển đổi mới. Không chỉ cần điện sạch dồi dào; điện ấy phải “luôn bật” và “đúng giờ”. Nói cách khác, năng lượng tái tạo chỉ thực sự thay thế được nhập khẩu khi nó trở thành nguồn điện có thể huy động theo nhu cầu, chứ không chỉ là nguồn điện giá rẻ khi mặt trời đang lên.
 
Than vì thế vẫn thống trị. Một nhà máy điện mặt trời vận hành tốt chỉ cung cấp khoảng 20% công suất thiết kế, so với 75% đến 100% ở các nhà máy nhiên liệu hóa thạch. Đó là lý do dù năng lượng sạch tăng nhanh, than vẫn bám trụ ở trung tâm hệ thống điện Ấn Độ. Chỉ tiêu xanh có thể tăng; song nền tảng vận hành hằng ngày vẫn là nguồn điện ổn định, liên tục và có thể kiểm soát.
 
New Delhi đang thử nhiều giải pháp để khắc phục điểm nghẽn ấy. Một số dự án dùng thủy điện tích năng: bơm nước lên hồ chứa khi điện mặt trời dư thừa, rồi phát điện trở lại lúc cần. Những dự án khác biến năng lượng mặt trời thành “ammonia xanh”, tức lưu trữ điện dưới dạng hóa học. Nhưng gần như mọi con đường đều quay về cùng câu trả lời: pin. Các hệ thống pin quy mô tiện ích cho phép nạp điện lúc giá rẻ và xả điện vào buổi tối, khi nhu cầu lên cao nhất. Tại một trạm pin ở Kilokri, New Delhi, chi phí điện hằng năm cho người dùng giảm khoảng 55%, theo số liệu của Global Energy Alliance. Một kỹ sư địa phương nghe tiếng dàn pin chạy rì rì nói với nhà đầu tư: đó là “âm thanh của tiền”.
 
Thoát lệ thuộc này, bước vào lệ thuộc khác
 
Nhưng giải pháp kéo theo nghịch lý địa chính trị khác. Muốn xây lưới điện hiện đại, Ấn Độ cần thiết bị mà Trung Quốc hiện thống trị gần như toàn bộ: tấm pin mặt trời, cáp cao thế, máy biến áp, pin lưu trữ. New Delhi rơi vào tình thế khó xử quen thuộc của thời đại địa kinh tế: thoát khỏi dầu Trung Đông đồng nghĩa với lệ thuộc hơn vào công nghệ Trung Quốc.
 
Các nhà hoạch định chính sách Ấn Độ hiểu rõ cái bẫy ấy. Họ không muốn rời sự phụ thuộc chỉ để bước vào sự phụ thuộc khác. Nhưng đó chính là thế lưỡng nan của quá trình chuyển đổi năng lượng hiện nay: năng lượng sạch không còn là vấn đề khí hậu; nó là vấn đề công nghiệp, chuỗi cung ứng và an ninh quốc gia.
 
Tham vọng đi nhanh hơn hạ tầng
 
Bài học từ cuộc chiến ở Iran có lẽ rất đơn giản. Ấn Độ đi xa trong sản xuất điện xanh, nhưng chưa đi đủ xa trong việc xây dựng hệ thống để dùng thứ điện ấy hiệu quả. Nước này không thiếu nắng. Họ thiếu lưới điện biết hấp thụ nắng, giữ lại nắng và phân phối nắng đúng lúc nền kinh tế cần nó nhất.
 
Trong nhiều năm, thế giới sẽ còn nhìn vào các con số công suất tái tạo Ấn Độ như bằng chứng cho cuộc chuyển đổi thành công. Nhưng nếu chiến tranh, giá dầu hay gián đoạn hàng hải có thể khiến hàng triệu gia đình quay lại với bếp củi và hàng nghìn nhà máy chậm dây chuyền, thì rõ ràng thành công ấy vẫn chưa đủ.
 
Ấn Độ xây được giấc mơ năng lượng sạch. Giờ họ phải xây nốt phần khó hơn: hệ thống để giấc mơ ấy không tắt mỗi khi thế giới nổi lửa.
 
shared via nytimes,

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên