Khi cơn khát AI gặp giới hạn của nước
29/01/26
![]() |
| Cư dân thành phố Covington, bang Georgia, đổ lỗi cho trung tâm dữ liệu Meta vì gây gián đoạn nguồn nước uống. Ảnh: Dustin Chambers |
Microsoft, dữ liệu và bài toán tài nguyên của kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo
Năm 2020, Brad Smith, Chủ tịch Microsoft, đưa ra một cam kết nghe rất đúng thời đại: tập đoàn phần mềm lớn nhất thế giới sẽ trở nên “water positive” (nước tích cực) vào năm 2030, tức hoàn trả cho môi trường nhiều nước hơn lượng nước mà công ty tiêu thụ. Microsoft sẽ cắt giảm mức sử dụng, đầu tư phục hồi đầm lầy, và triển khai các công nghệ tiết kiệm nước trong mạng lưới trung tâm dữ liệu ngày càng mở rộng của mình.
Ông Smith nói: “Nước là thiết yếu cho sự sống.”
Chỉ hai năm sau, ChatGPT ra đời, và cùng với nó là cơn sốt AI làm thay đổi hoàn toàn các giả định nền tảng đằng sau lời hứa ấy.
Từ công ty phần mềm nhẹ tài nguyên
Trong nhiều thập kỷ, Microsoft, Google hay Meta tự xem mình là các doanh nghiệp “phi vật chất”: họ bán mã nguồn, dịch vụ số, nền tảng phần mềm, không phải thép, xi măng hay hóa chất. Dấu chân môi trường của họ, so với các ngành công nghiệp truyền thống, được xem là tương đối nhẹ.
AI đã đảo ngược logic đó.
Để huấn luyện và vận hành các mô hình trí tuệ nhân tạo ngày càng lớn, các tập đoàn công nghệ buộc phải xây dựng hoặc thuê hàng trăm trung tâm dữ liệu, những nhà máy số tiêu thụ điện, nước và đất đai ở quy mô công nghiệp. Theo JLL, đến năm 2030, công suất trung tâm dữ liệu toàn cầu sẽ tăng gấp đôi.
Sự chuyển đổi này diễn ra nhanh đến mức khi Microsoft đưa ra cam kết về nước năm 2020, ChatGPT còn chưa tồn tại. Nhưng đến năm 2022, chatbot này châm ngòi cho cuộc chạy đua hạ tầng dữ liệu giữa Microsoft, Google và OpenAI, kéo theo nhu cầu làm mát khổng lồ cho các dãy máy chủ nóng rực.
Dự báo nội bộ: Nước sẽ tăng vọt
Theo các dự báo nội bộ mà Microsoft lập năm ngoái, và được The New York Times tiếp cận, công ty từng ước tính lượng nước tiêu thụ hàng năm cho khoảng 100 cụm trung tâm dữ liệu trên toàn cầu sẽ tăng hơn ba lần trong thập kỷ này, đạt 28 tỷ lít vào năm 2030.
Con số đó so với:
- 7,9 tỷ lít năm 2020
- 10,4 tỷ lít năm 2024
Sau khi The Times đặt câu hỏi, Microsoft cho biết họ đã điều chỉnh dự báo, nhờ các thiết kế trung tâm dữ liệu mới và kỹ thuật tiết kiệm nước. Theo ước tính cập nhật, công ty hiện dự kiến sử dụng 18 tỷ lít nước vào năm 2030, tăng 150% so với năm 2020.
Đáng chú ý, con số mới không bao gồm hơn 50 tỷ USD các thỏa thuận trung tâm dữ liệu mà Microsoft ký trong năm ngoái với các nhà cung cấp mới, thường được gọi là “neoclouds”.
Dù con số là 28 hay 18 tỷ lít, xu hướng thì không thay đổi: đi lên.
Điểm nóng: Nơi khan nước lại tiêu thụ nhiều nhất
Điều khiến các CEO và nhà quản lý công đặc biệt lo ngại không phải tổng lượng nước, mà là địa điểm.
Gần Jakarta, một siêu đô thị đang chìm dần xuống biển Java vì khai thác nước ngầm quá mức, Microsoft từng dự báo lượng nước sử dụng sẽ tăng hơn bốn lần, từ 380 triệu lít hiện nay lên 1,9 tỷ lít vào năm 2030. Sau đó, công ty điều chỉnh con số xuống 664 triệu lít, nhưng không giải thích rõ vì sao.
Tại khu vực Phoenix, Arizona, nơi đã trải qua hai thập kỷ hạn hán, Microsoft ban đầu dự báo lượng nước rút sẽ đạt 3,3 tỷ lít vào năm 2030, cao nhất trong toàn bộ hệ thống toàn cầu. Sau đó, công ty giảm ước tính xuống 2 tỷ lít, nhờ vận hành trung tâm dữ liệu ở nhiệt độ cao hơn, giảm nhu cầu làm mát bằng nước.
Ngay cả với các điều chỉnh này, theo chính công ty, 46% lượng nước Microsoft rút trong năm ngoái đến từ các khu vực bị stress nước.
“Nước luôn bị đẩy xuống cuối bàn”
Năm cựu và đương kim nhân viên Microsoft cho biết, trong cuộc chạy đua xây dựng trung tâm dữ liệu, tốc độ và chi phí là hai tiêu chí đánh giá chính. Nước, không giống như điện, thường rẻ, và vì thế không phải ưu tiên hàng đầu.
Priscilla Johnson, Giám đốc chiến lược nước của Microsoft giai đoạn 2017–2020, nói: “Nước luôn bị đẩy xuống ghế sau, năng lượng được chú ý hơn vì đắt hơn. Nước quá rẻ để khiến người ta phải bận tâm.”
Bà kể rằng khi bà gia nhập Microsoft, một số trung tâm dữ liệu thậm chí không có đồng hồ đo nước. Trong các cuộc họp quy hoạch, nước thường là mục cuối cùng, và hay bị bỏ qua khi hết giờ.
Cam kết “water positive”: Khó hơn tưởng
Khoảng 2/3 lượng nước mà Microsoft dùng cho trung tâm dữ liệu bốc hơi trong quá trình làm mát, không thể tái sử dụng, tỷ lệ tương đương nhiều doanh nghiệp nông nghiệp.
Để đạt mục tiêu “water positive”, Microsoft sẽ phải bù lại khoảng 18 tỷ lít nước vào năm 2030, tương đương mức tiêu thụ hàng năm của thành phố Boulder, Colorado, với khoảng 100.000 dân.
Công ty đã đầu tư vào hơn 75 dự án hoàn trả nước: phục hồi đầm lầy ở Iowa, lắp cảm biến rò rỉ nước cho nhà ở thu nhập thấp tại Texas. Nhưng trong báo cáo môi trường 2024, Microsoft thừa nhận “thách thức then chốt” là thiếu các dự án sẵn sàng triển khai tại các địa điểm ưu tiên.
Hiệu ứng nhân: Nước cho điện
Các con số của Microsoft còn chưa tính đến nước dùng để sản xuất điện cho trung tâm dữ liệu.
Theo Fengqi You, giáo sư Đại học Cornell, phần lớn điện năng đến từ các nhà máy cần lượng nước khổng lồ để làm mát. Khi tính cả yếu tố này, dấu chân nước thực sự có thể tăng gấp ba.
Theo cách tính đó, tổng lượng nước liên quan đến Microsoft vào năm 2030 có thể lên tới 80 tỷ lít, tương đương mức tiêu thụ của một thành phố Mỹ cỡ trung.
Đến năm 2028, theo Bộ Năng lượng Mỹ, trung tâm dữ liệu có thể chiếm tới 12% tổng điện năng tiêu thụ của Mỹ, tăng gần gấp ba hiện nay.
Nhỏ trong toàn cục, lớn ở địa phương
Xét trên toàn nước Mỹ, trung tâm dữ liệu chỉ chiếm khoảng 0,04% lượng nước tiêu thụ năm 2024, so với 41% cho sản xuất năng lượng và 37% cho nông nghiệp.
Nhưng nước là tài nguyên cực kỳ địa phương.
Conrad Reddick, ủy viên tiện ích bang Illinois, nói: “Việc nó chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng tiêu thụ toàn cầu không có ý nghĩa gì, nếu địa phương đó cần nhiều hơn những gì họ có.”
Amazon đã hủy một dự án ở Arizona vì nước. Google rút khỏi Chile năm 2024. Cư dân Georgia cáo buộc trung tâm dữ liệu Meta làm ảnh hưởng nguồn nước uống.
AI đang biến các công ty công nghệ thành doanh nghiệp hạ tầng, dù họ có muốn hay không. Điều này kéo theo những xung đột không thể né tránh với tài nguyên hữu hạn như nước, điện và đất.
Brad Smith gần đây so sánh AI với điện, điện thoại và ô tô, những công nghệ từng buộc xã hội phải xây dựng lưới điện, đường dây và xa lộ.
Ông nói: “Lại chuyện cũ tái diễn.”
Câu hỏi không phải AI có tiếp tục bùng nổ hay không, mà là ai sẽ trả chi phí tài nguyên cho cuộc bùng nổ đó, và ở đâu.
Trong kỷ nguyên AI, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở chip hay thuật toán, mà ở khả năng quản trị những giới hạn vật lý rất đời thường: nước, điện và sự chấp nhận của cộng đồng địa phương.
Đây là bài toán không mô hình ngôn ngữ nào có thể giải thay cho lãnh đạo.
shared via nytimes,



