Giỏ hàng

Biến động thị trường không cản nổi cơn đói sáp nhập

Cửa hàng Jetro Restaurant Depot, Bronx. Sysco đấu thầu mua lại Jetro với giá 29 tỷ USD là phép thử đối với mức độ sẵn sàng của các nhà quản lý trong việc cho phép làn sóng tập trung hóa ngành thực phẩm. Ảnh: Bryan Thomas/The New York Times

Chiến sự Iran đẩy giá năng lượng đi lên, chứng khoán biến động và bất định địa chính trị phủ bóng lên kinh tế toàn cầu. Nhưng trong các phòng họp doanh nghiệp Mỹ, logic khác đang thắng thế: khi Nhà Trắng mở cửa hơn cho các thương vụ, nhiều công ty thà chấp nhận biến động còn hơn bỏ lỡ cơ hội sáp nhập.
 
Thông thường, thị trường ghét bất định và M&A ghét thị trường bất ổn. Giá dầu tăng, cổ phiếu trồi sụt, lãi suất cao và chiến sự Trung Đông leo thang lẽ ra phải là công thức hoàn hảo để các CEO hoãn những canh bạc lớn. Nhưng đầu năm nay, doanh nghiệp Mỹ hành xử theo hướng gần như ngược lại. Thay vì co cụm, họ ký thêm thương vụ. Thay vì chờ sóng yên, họ chọn đi ngay khi cửa chính trị hé mở.
 
Chỉ riêng quý đầu năm 2026, giá trị các thương vụ sáp nhập và mua lại được công bố đạt 464 tỷ USD, theo Dealogic, một trong những quý mở màn mạnh nhất trong 5 năm gần đây. Quy mô ấy không đến từ vài giao dịch lẻ tẻ, mà từ loạt thương vụ đủ lớn cho thấy đây không còn là sự lạc quan cục bộ. McCormick tuyên bố bỏ ra 45 tỷ USD mua mảng thực phẩm của Unilever. Sysco, nhà phân phối thực phẩm khổng lồ, công bố thương vụ 29 tỷ USD với Jetro Restaurant Depot. Tới Bill Ackman đề nghị mua Universal Music ở mức định giá 64 tỷ USD, cao hơn gần 80% so với giá cổ phiếu cuối tuần trước đó. Nếu đây là thời kỳ dè chừng, thì giới doanh nghiệp Mỹ rõ ràng đang định nghĩa sự dè chừng theo cách rất riêng.
 
Cánh cửa Washington mở ra, doanh nghiệp bước vào
 
Phần lớn lời giải nằm ở chính trị, không chỉ ở thị trường. Trong nhiều năm dưới thời Biden, các tập đoàn lớn quen với mức giám sát chống độc quyền gắt gao hơn, đặc biệt ở các ngành tập trung cao. Khi Donald Trump trở lại Nhà Trắng cùng Quốc hội do đảng Cộng hòa kiểm soát, giới doanh nghiệp lập tức kỳ vọng môi trường pháp lý sẽ dễ thở hơn. Cho tới nay, kỳ vọng đó dường như không phải không có cơ sở.
 
Theo các ngân hàng đầu tư và hãng luật, doanh nghiệp tranh thủ điều họ coi là thái độ cởi mở hơn của Washington với các thương vụ lớn. Chính quyền Trump, theo lời một luật sư M&A, “rất cởi mở với làm ăn thương vụ”, dù rõ ràng vẫn theo đuổi những ưu tiên chính trị riêng. Cụm từ đó đáng chú ý ở cả hai vế. Một mặt, chính quyền liên bang hiện không còn tỏ ra hăng hái chặn thương vụ như giai đoạn trước. Mặt khác, việc được gật đầu không hoàn toàn phụ thuộc vào tiêu chí chống độc quyền theo nghĩa cổ điển. Nó ngày càng phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có biết điều chỉnh bản thân cho đúng quỹ đạo chính trị hay không. Thị trường thương vụ hồi sinh không phải vì rủi ro biến mất, mà vì trọng tâm rủi ro chuyển từ tài chính sang chính trị.
 
Từ chống độc quyền sang “mặc cả” quyền lực
 
Đó là điểm mới nhất, và cũng đáng ngại nhất, của môi trường M&A hiện tại. Nếu dưới thời Biden, trở ngại chính là các lập luận kinh tế về cạnh tranh và tập trung thị phần, thì dưới thời Trump, nhiều nhà tư vấn cho rằng đã xuất hiện thêm những con đường khác để giành phê duyệt: tiếp cận cá nhân với tổng thống, chiều theo các ưu tiên chính trị của chính quyền, hoặc chấp nhận các nhượng bộ không hoàn toàn nằm trong logic của luật chống độc quyền truyền thống.
 
U.S. Steel hoàn tất việc bán cho Nippon Steel sau khi chấp nhận để chính phủ liên bang nắm “cổ phần vàng” trong công ty mới. Nhóm nhà đầu tư tham gia thương vụ TikTok tại Mỹ hứa trả 10 tỷ USD cho Bộ Tài chính, một khoản mà nhiều chuyên gia pháp lý xem là chưa từng có tiền lệ. Các tập đoàn quảng cáo Omnicom và Interpublic đồng ý tránh các cuộc tẩy chay chính trị để được thông qua vụ sáp nhập 13,5 tỷ USD. Một số doanh nghiệp khác dẹp bỏ các chương trình DEI trong lúc chờ được FCC gật đầu.
 
Đây là loại “nới lỏng” không hoàn toàn vô hại. Nó giúp nhiều thương vụ đi nhanh hơn ở cấp liên bang, đồng thời khiến quá trình phê duyệt ngày càng giống cuộc thương lượng quyền lực hơn là thủ tục kỹ trị. Doanh nghiệp không chỉ cần thương vụ tốt. Họ cần thương vụ đúng bầu không khí chính trị.
 
Các công ty không mua vì rẻ, mà vì cần tăng trưởng
 
Tuy nhiên, chính trị chỉ là một nửa câu chuyện. Nửa còn lại là tăng trưởng. Trong bối cảnh người tiêu dùng chắt chiu, nhiều ngành hàng tăng trưởng chậm, và các tập đoàn lớn phải tìm cách củng cố vị thế với nhà bán lẻ hay mở rộng kênh phân phối, sáp nhập trở thành lối đi nhanh hơn tự thân vận động. McCormick mua mảng thực phẩm của Unilever để tăng sức nặng với các nhà bán lẻ, trong lúc người tiêu dùng quay lưng dần với thực phẩm đóng gói truyền thống. Thương vụ bổ sung các thương hiệu như Hellmann’s và Knorr, đồng thời giúp doanh thu McCormick tăng gấp hơn ba lần. Sysco mua Jetro vì muốn bước vào mảng cash-and-carry, mô hình bán sỉ tiền mặt phục vụ các nhà hàng nhỏ và cửa hàng thực phẩm độc lập.
 
Theo cách đó, nhiều thương vụ hiện nay không đơn thuần là trò đánh cược tài chính. Chúng là phản ứng chiến lược trước nền kinh tế mà tăng trưởng hữu cơ ngày càng khó kiếm. Nếu tăng trưởng không đến từ mở rộng thị trường, doanh nghiệp sẽ tìm nó bằng cách mua luôn thị phần, kênh phân phối hoặc tệp khách hàng của người khác.
 
Rủi ro không biến mất, nó chỉ đổi cấp độ
 
Dù vậy, sẽ là ngây thơ nếu cho rằng chính quyền liên bang dễ chịu hơn đồng nghĩa đường đi đã phẳng. Nghịch lý mới đang xuất hiện: khi Washington mềm hơn, các bang cứng hơn. Tổng chưởng lý đảng Dân chủ tại 12 bang cùng Washington, D.C. đã kiện để chặn quyết định của Bộ Tư pháp cho phép Hewlett Packard Enterprise mua Juniper Networks. Nhiều bang khác cũng công khai đe dọa sẽ làm khó các thương vụ như Paramount mua Warner Bros. Discovery hay Nexstar mua Tegna. Thương vụ Tegna thậm chí còn bị thẩm phán liên bang tạm dừng 14 ngày sau khi FCC cấp miễn trừ.
 
Điều này có nghĩa sự chính trị hóa chống độc quyền không hề suy giảm; nó chỉ đổi địa bàn. Các công ty có thể tự tin hơn về DOJ hay FTC, nhưng phải dè chừng mạng lưới phản ứng ở cấp bang. Với những thương vụ lớn, quá trình phê duyệt ngày càng giống mê cung nhiều cửa: liên bang, bang, cơ quan quốc tế, các nước đối tác, đôi khi cả những cân nhắc địa chính trị ngoài hồ sơ pháp lý chính thức.
 
M&A toàn cầu là trò chơi địa chính trị
 
Xu hướng đó không chỉ giới hạn trong nước Mỹ. Trên bình diện quốc tế, các thương vụ lớn ngày càng bị nhìn qua lăng kính công nghệ, an ninh và cạnh tranh chiến lược. Những gì từng được xem là giao dịch thương mại nay có thể nhanh chóng biến thành câu hỏi về chủ quyền, dữ liệu, chuỗi cung ứng hay vị thế công nghiệp quốc gia. Theo lời lãnh đạo M&A tại JPMorgan, số lượng cơ quan, người và khu vực pháp lý cần phải tính đến rất lớn. Nhưng cách tiếp cận chủ đạo của nhiều bên vẫn là: nếu thương vụ thật sự hợp lý, họ sẽ tìm cách làm cho nó xảy ra.
 
Đó là tinh thần đang chi phối thị trường hiện nay. Logic của M&A không còn đơn giản là “đợi mọi thứ rõ hơn rồi hành động”. Nó là “hành động khi cửa sổ chính trị còn mở, và xử lý biến động sau”.
 
Thị trường chao đảo, cơn đói thương vụ vẫn còn
 
Làn sóng sáp nhập hiện nay phi lý. Giá năng lượng leo thang vì chiến tranh. Cổ phiếu biến động dữ dội. Chi phí vốn không thấp. Vậy mà các thương vụ vẫn nối nhau xuất hiện. Nhưng chính điều đó lại nói lên điều quan trọng nhất về doanh nghiệp Mỹ hiện tại: họ đã học cách sống với bất ổn, miễn là phần thưởng chiến lược đủ lớn và phần cản trở pháp lý có vẻ đỡ đáng sợ hơn trước.
 
Có thể sau này, một phần trong các thương vụ ấy sẽ bị chặn, bị hoãn hoặc phải trả giá đắt vì cấu trúc tài chính quá mạo hiểm. Nhưng hiện tại, tín hiệu từ thị trường là khá rõ: trong mắt nhiều công ty, biến động không còn là lý do để đứng yên. Nó chỉ là chi phí phải định giá vào thương vụ.
 
shared via nytimes,

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên