Giỏ hàng

Chiến sự Iran đặt phép thử lợi nhuận doanh nghiệp Mỹ

Johnson & Johnson, nhà sản xuất dược phẩm và thiết bị y tế, báo cáo lợi nhuận khả quan và nâng cao dự báo lợi nhuận cả năm. Ảnh: Cristina Arias/Cover

Chiến tranh Iran đẩy giá năng lượng lên cao và làm dày thêm một lớp bất ổn mới cho kinh tế Mỹ. Nhưng lịch sử gần đây cho thấy các công ty Mỹ sẽ làm điều họ đã nhiều lần làm được: chuyển phần lớn chi phí sang người tiêu dùng, giữ biên lợi nhuận và để hộ gia đình gánh phần thiệt.
 
Từ đầu thập niên 2020 đến nay, doanh nghiệp Mỹ đã vượt qua chuỗi cú sốc mà lẽ ra đủ sức làm nhiều mô hình kinh doanh chao đảo: đại dịch, lạm phát cao, thuế quan, đứt gãy chuỗi cung ứng, chiến sự tại những trung tâm hàng hóa chiến lược. Thế nhưng lợi nhuận doanh nghiệp không những không sụp đổ mà còn vươn lên mức kỷ lục so với quy mô nền kinh tế. Biên lợi nhuận, phần chênh giữa giá đầu vào và giá bán cuối cùng cũng ở gần mức cao lịch sử. Nói cách khác, doanh nghiệp Mỹ học được cách sống chung với khủng hoảng. Không chỉ sống chung, mà còn kiếm lời từ nó.
 
Giờ đây, khi chiến tranh với Iran đẩy giá dầu, diesel, nhiên liệu bay và hàng loạt đầu vào khác đi lên, câu hỏi không còn là liệu cú sốc này có tác động tới kinh tế Mỹ hay không. Nó đã tác động. Câu hỏi thực sự là liệu khu vực doanh nghiệp Mỹ có thể lặp lại màn trình diễn cũ: tăng giá, cắt chi phí, tìm nguồn cung thay thế, làm chậm tuyển dụng và giữ lợi nhuận không bị tổn thương quá nặng.
 
Cỗ máy thích nghi vượt trội
 
Những tín hiệu ban đầu chưa cho thấy sự hoảng loạn. Johnson & Johnson vừa nâng dự báo lợi nhuận cả năm, dù thừa nhận môi trường vĩ mô bất định hơn. Bank of America báo lãi quý tăng so với cùng kỳ, phần nào nhờ chi tiêu tiêu dùng vẫn còn vững. Chỉ số S&P 500 nhích về gần đỉnh cũ.
 
Sự tự tin ấy không hoàn toàn vô lý. Kể từ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, một trong những bài học bền bỉ nhất của kinh tế Mỹ là các đội ngũ quản trị doanh nghiệp rất giỏi xoay xở khi biến cố ập đến. Họ có thể sa thải, tự động hóa, ép nhà cung cấp, tăng giá, đổi nguồn đầu vào hoặc đơn giản tận dụng tâm lý lạm phát để đẩy bảng giá lên xa hơn mức chi phí thực tế. Khi hệ thống bị sốc, họ không phản ứng như những nạn nhân thụ động. Họ phản ứng như những người săn biên lợi nhuận.
 
Lạm phát là cơ hội
 
Với nhiều doanh nghiệp, lạm phát do cú sốc bên ngoài không chỉ là điều phải chịu. Nó còn là cơ hội để mở rộng biên lợi nhuận.
 
Khi chiến tranh hay gián đoạn địa chính trị đẩy giá đầu vào lên, doanh nghiệp có thêm lý do hợp pháp để tăng giá bán. Trong bối cảnh người tiêu dùng đã quen với việc mọi thứ trở nên đắt hơn, ngưỡng phản kháng đối với bảng giá cao hơn thường yếu đi. Đây là điều đã xảy ra sau cuộc xâm lược Ukraine của Nga năm 2022: giá hàng hóa tăng, lạm phát leo thang, nhưng lợi nhuận doanh nghiệp Mỹ cũng đi lên cùng lúc. Dữ liệu giá sản xuất cho thấy nhiều khâu bán buôn và bán lẻ nới rộng khoảng cách giữa chi phí mua hàng và giá bán ra. Trong thời kỳ nhiễu loạn, không phải mọi đợt tăng giá đều là phản ứng phòng thủ. Một phần trong số đó là chiến lược.
 
Iran là bài kiểm tra lớn hơn
 
Dù vậy, cú sốc lần này không giống hệt năm 2022. Có ít nhất ba lý do khiến nó nguy hiểm hơn.
 
Thứ nhất, nền kinh tế Mỹ hiện yếu hơn lúc đó. Việc làm vẫn tăng, nhưng rất chậm. Tuyển dụng èo uột. Các chỉ báo về hoạt động kinh tế giảm tốc so với giai đoạn hậu đại dịch. Người tiêu dùng thu nhập thấp, sau nhiều năm bị bào mòn bởi giá cao, giờ không còn nhiều sức chịu đựng. Trong bối cảnh ấy, không phải doanh nghiệp nào cũng có thể tự tin chuyển chi phí sang khách hàng mà không làm doanh thu chững lại.
 
Thứ hai, cú sốc hiện tại chồng lên tầng sức ép khác: thuế quan. Hàng hóa nhập khẩu đắt hơn vì chính sách thương mại của Washington. Nay thêm chiến tranh Iran, chi phí vận tải, đóng gói, phân bón, hóa dầu và năng lượng đồng loạt đi lên. Nền kinh tế Mỹ không bước vào cú sốc mới từ mặt bằng sạch; nó bước vào với chi phí vốn cao và dư địa hấp thụ thấp hơn.
 
Thứ ba, một số công cụ giúp doanh nghiệp tăng giá hiện tinh vi hơn trước. Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng lo ngại rằng công nghệ định giá dùng AI có thể giúp doanh nghiệp theo dõi giá đối thủ theo thời gian thực và tính toán mức tăng tối ưu nhanh hơn nhiều. Khi đó, chiến tranh không chỉ làm giá đầu vào tăng. Nó còn tạo ra bầu không khí trong đó việc tăng giá trở nên dễ phối hợp và dễ biện minh hơn.
 
Không phải ngành nào cũng tránh đòn
 
Tất nhiên, không phải mọi doanh nghiệp đều có quyền lực định giá như nhau. Những ngành sử dụng nhiều nhiên liệu và điện, hoặc có cấu trúc cạnh tranh khốc liệt hơn, sẽ đau đớn thực sự. Ngành chế biến thịt là một ví dụ. Khi diesel tăng, chi phí chăn nuôi, vận chuyển và làm lạnh đồng loạt bị đẩy lên. Một nghiên cứu từ Đại học Purdue cho thấy nếu chiến tranh kéo dài qua mùa trồng trọt và sinh trưởng mùa xuân hè, lạm phát thực phẩm tại nhà có thể vọt lên 5 – 7%. Và ngay cả khi giá năng lượng hạ xuống sau đó, giá thực phẩm có thể không giảm tương ứng, vì các nhà bán lẻ sẽ ưu tiên khôi phục phần biên lợi nhuận từng bị ép lại ở giai đoạn đầu của cú sốc.
 
Đây là cơ chế quen thuộc của lạm phát hiện đại: giá lên nhanh khi bị sốc, nhưng xuống chậm khi cú sốc qua đi. Người tiêu dùng nhớ rất rõ điều ấy, vì họ đã sống qua nó trong vài năm gần đây.
 
Biên lợi nhuận là chiếc neo thầm lặng của thị trường lao động
 
Có một lý do khiến câu chuyện lợi nhuận doanh nghiệp quan trọng hơn việc nó nghe có vẻ khô khan. Trong nhiều năm qua, chính lợi nhuận cao là chiếc neo thầm lặng của thị trường lao động Mỹ. Khi doanh nghiệp còn lời, họ có ít lý do để sa thải hàng loạt, ngay cả khi tăng trưởng chậm lại. Điều đó giúp giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp và tránh cho nền kinh tế rơi vào suy thoái sâu hơn.
 
Nhưng chiếc neo ấy cũng có cái giá xã hội rõ rệt. Lợi nhuận cao của doanh nghiệp không tự nhiên xuất hiện. Một phần đến từ việc hộ gia đình phải chịu mức sống đắt đỏ hơn: ở cửa hàng tạp hóa, trạm xăng, trong hóa đơn giao hàng, trong từng khoản phí nhỏ được cộng thêm vào cuộc sống thường nhật. Trong những thời kỳ như thế này, “lạm phát của người này thường mở rộng biên lợi nhuận của người khác”. Đó là nhận xét cay đắng, nhưng khó phản bác.
 
Phố Wall nghiêng về kịch bản doanh nghiệp thắng thế
 
Bất chấp rủi ro địa chính trị và những dự báo suy thoái ngày một nhiều hơn, ước tính đồng thuận của Phố Wall vẫn cho rằng lợi nhuận của các công ty trong S&P 500 sẽ tăng hơn 10% qua vài quý tới. Điều đó không có nghĩa thị trường tin sẽ không có đau đớn. Nó có nghĩa thị trường tin rằng nếu đau đớn xảy ra, doanh nghiệp Mỹ vẫn sẽ biết cách chuyển phần lớn nó cho người khác.
 
Có thể lần này họ sẽ lại đúng. Nhưng nếu chiến tranh kéo dài đủ lâu, giá dầu leo lên 170 USD/thùng như một số nhà đầu tư bi quan dự báo, hoặc nguồn cung vật lý thực sự thắt lại, thì ngay cả những “ninja quản trị rủi ro” giỏi nhất cũng bắt đầu hụt chân. Khi đó, biên lợi nhuận không còn là câu chuyện của cổ đông. Nó sẽ trở thành câu chuyện của sa thải, đóng băng đầu tư và bóp nghẹt tăng trưởng.
 
shared via nytimes,

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên