Khôi phục đa phương bằng nền tảng công
28/08/26
“Trật tự dựa trên luật lệ” thường được miêu tả như mô hình quản trị toàn cầu nhân từ dưới quyền lãnh đạo Mỹ sau Thế chiến II. Tuy nhiên, cách kể ấy quá dễ dãi: trật tự này phần nào thể hiện sự tin tưởng vào ảnh hưởng lành tính của quyền lực kinh tế – chính trị Mỹ thay vì miêu tả chính xác về quản trị toàn cầu. Sự trở lại của Donald Trump khiến niềm tin này rạn vỡ nhanh hơn. Từ ngày 17/1/2025, hàng loạt sắc lệnh tổng thống nhắm trực tiếp vào các định chế hợp tác quốc tế, trong nước lẫn đa phương.
Đòn thuế quan công bố ngày 2/4/2025 được Trump gọi là “Ngày giải phóng”, bị giới kinh tế chế giễu vì logic và phép tính đằng sau thuế “có đi có lại”. Nhưng nếu chỉ phản bác bằng kỹ thuật kinh tế, ta sẽ bỏ lỡ điều chính: không phải gói chính sách thương mại được thiết kế tốt, đây là dự án chính trị nhằm định hình lại quyền lực Mỹ. Trung Quốc là mục tiêu trung tâm, còn việc Trump tạm hoãn thuế 90 ngày (trừ trường hợp của Bắc Kinh), báo hiệu rối loạn còn kéo dài. Các nước nghèo mắc nợ cao sẽ chịu tác động sớm, dù USD yếu hơn phần nào giúp bù đắp.
Không thể chỉ “trở lại bình thường”
Lời kêu gọi “trở lại bình thường” của những người bảo vệ trật tự cũ hoàn toàn không khả thi. Năm 1944, lý tưởng ban đầu tại Bretton Woods không phải là thả nổi tư bản tư nhân, mà ngược lại: sau bất ổn tài chính, lây lan kinh tế và bạo lực chính trị thời giữa hai cuộc thế chiến, các nhà thiết kế hệ thống mới nghi ngờ tham vọng của tư bản tư nhân và niềm tin thị trường tự sửa sai. Chính sách công chủ động, điều tiết mạnh, hợp tác quốc tế và bác bỏ “bắt nạt kinh tế” mới là nền tảng ban đầu.
Dù vậy, hệ thống Bretton Woods chưa từng đạt trọn lý tưởng. Quyền lực bá chủ vẫn được Mỹ dùng để bảo vệ lợi ích riêng và ép các bên không tuân thủ. Thời điểm Quốc hội Mỹ bác bỏ Hiến chương Havana về Tổ chức Thương mại Quốc tế, mối lo ngại của các quốc gia đang phát triển về bất bình đẳng trong phân công lao động toàn cầu bị gạt sang bên. Tuy nhiên trật tự hậu chiến vẫn tạo ra mức ổn định đủ lớn giúp các nước phát triển phục hồi, tăng trưởng nhanh, duy trì việc làm cao và mở rộng phúc lợi.
Từ Bretton Woods đến toàn cầu hóa tài chính
Từ cuối thập niên 1960, hệ thống này bị kéo căng bởi áp lực tài khóa, mất cân đối thương mại và xung đột tại nơi làm việc. Năm 1971, Tổng thống Nixon đơn phương cắt liên kết giữa USD và chế độ tỷ giá cố định, mở đường cho các ngân hàng quốc tế phát triển nhờ tái chế “USD dầu mỏ”. Đến cuối thập niên 1970 và đầu 1980, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, để USD mạnh lên, với hậu thuẫn chính trị của Ronald Reagan. Cú sốc này gây hỗn loạn thị trường và khiến kinh tế Mỹ lâm suy thoái tới cuối 1982, làm suy yếu lao động có tổ chức và đoàn kết của các nước đang phát triển.
Đến cuối thập niên 1980, trật tự kinh tế quốc tế chuyển sang phục vụ vốn lưu động xuyên biên giới, đi kèm bộ công cụ thắt lưng buộc bụng. Các định chế đa phương hậu thuẫn dòng vốn tự do, mở Đông Âu và Nam bán cầu cho tư bản tư nhân. Nhưng tự do hóa vốn không đem lại đầu tư sản xuất bao trùm hay ổn định tài chính. Từ khủng hoảng tiết kiệm và cho vay ở Mỹ giữa thập niên 1980, tới Mexico, Đông Á, Nga, Covid-19 và hậu quả sau đó, bất ổn tài chính trở thành đặc điểm thường trực của toàn cầu hóa.
Ảo tưởng huy động vốn tư nhân
Sau khủng hoảng tài chính 2008, Nicolas Sarkozy và Gordon Brown nói về “Bretton Woods mới”, nhưng khi ngân hàng được cứu, mọi thứ quay lại quỹ đạo cũ. Quỹ phòng hộ, vốn cổ phần tư nhân và quản lý tài sản hưởng lợi từ tiền rẻ. Chính phủ dù giàu hay nghèo, đều bị thắt chặt ngân sách, ký thêm các thỏa thuận đối tác công–tư để cung cấp hàng hóa và dịch vụ công. Năm 2021, tại Hội nghị COP26 ở Glasgow, liên minh tài chính do Michael Bloomberg và Mark Carney dẫn dắt thậm chí gợi ý mô hình này có thể mở khóa hơn 130.000 tỷ USD cho hành tinh. Tuy nhiên, theo chuyên gia kinh tế trưởng toàn cầu của Ngân hàng Thế giới: kết quả của một thập niên huy động vốn tư nhân rất “thảm hại”.
Chủ nghĩa đa phương mới
Để đạt mục tiêu khử carbon và cải thiện đời sống của đa số toàn cầu, cải cách phải dựa trên nền tảng công: tài chính, đầu tư, dịch vụ và chính sách công. Năm 2024, G20 dưới nhiệm kỳ chủ tịch của Brazil xác định mạng lưới các định chế tài chính phát triển là lực lượng then chốt chống nghèo đói và biến đổi khí hậu. Nếu tính thêm ngân hàng trung ương, quỹ tài sản quốc gia và quỹ hưu trí công, quy mô tài chính công còn lớn hơn nhiều và sở hữu số tài lên tới hơn 23.000 tỷ USD.
Trọng tâm là xây dựng quan hệ đối tác công: ngân hàng phát triển đa phương phối hợp với ngân hàng phát triển quốc gia, giúp giảm chi phí vốn, phòng hộ rủi ro, nhất là rủi ro tiền tệ, và tài trợ chuyển đổi năng lượng. Sau hơn 50 năm kể từ nỗ lực xây dựng Trật tự Kinh tế Quốc tế Mới và 70 năm sau Hội nghị Bandung, các định chế do Nam bán cầu dẫn dắt như Ngân hàng Phát triển Mới của BRICS, Ngân hàng Phát triển Hồi giáo và Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ có thể mở đường cho kế hoạch này. Tuy nhiên, cải cách không thể chỉ đến từ ngoại giao hậu trường hay hội nghị thượng đỉnh. Cần các liên minh chính trị mới ở cấp quốc gia, khu vực và toàn cầu đối đầu với vốn lưu động, doanh nghiệp trục lợi và nền kinh tế carbon.
shared via phenomenal world,



