Sau chống độc quyền, phe cấp tiến Mỹ tìm lại bài toán kiểm soát giá và tiền lương
03/06/26
Trong cuộc bầu cử năm 2024, thất bại của Đảng Dân chủ đã đặt chương trình chống độc quyền của phe cấp tiến Mỹ vào thế bấp bênh. Nhiều năm qua, các nhà hoạch định chính sách cánh tả tại Washington đặt nhiều kỳ vọng vào việc kiềm chế các tập đoàn lớn, phá thế độc quyền và khôi phục cạnh tranh để giảm bất bình đẳng kinh tế. Nhưng hướng đi này đã được thổi phồng quá mức và không chạm tới gốc rễ của vấn đề phân phối của cải tại Mỹ.
Chủ nghĩa chống độc quyền chưa bao giờ là công cụ mạnh nhất trong truyền thống cấp tiến Mỹ. Thời kỳ New Deal và giai đoạn sau Thế chiến II, chính những chính sách trực tiếp hơn như kiểm soát giá, điều tiết tiền lương, đánh thuế lũy tiến và bảo vệ công đoàn mới tạo ra mức bình đẳng cao kỷ lục. Chống độc quyền chỉ là phương án phụ, được sử dụng khi các lực lượng cấp tiến không đạt được mục tiêu sâu hơn, kiểm soát phần thặng dư kinh tế mà doanh nghiệp và chủ sở hữu thường giữ lại.
Bốn năm dưới chính quyền Biden cho thấy rõ giới hạn này. Các nỗ lực chống độc quyền được quảng bá như một phần trọng tâm trong cuộc chiến chống bất bình đẳng, nhưng kết quả với người lao động và người tiêu dùng bình thường không rõ rệt. Kế hoạch giảm giá thuốc bằng cách nhập khẩu từ Canada, nơi giá vốn do nhà nước kiểm soát trực tiếp, không đi đến đâu. Chiến thắng pháp lý lớn trước Google lại nhắm vào công ty cung cấp sản phẩm miễn phí cho người dùng. Vụ kiện liên quan đến ngành xuất bản được trình bày như có lợi cho người lao động, nhưng trên thực tế là bảo vệ tiền bản quyền rất lớn của các tác giả bán chạy. Ý tưởng dùng chống độc quyền để xử lý lạm phát hậu đại dịch nhanh chóng mất sức thuyết phục.
Vấn đề nằm ở địa tô kinh tế
Để hiểu vì sao chống độc quyền không đủ, chúng ta cần hiểu khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị cánh tả là địa tô kinh tế. Địa tô ở đây không chỉ là tiền thuê đất, đó là phần doanh thu vượt quá mức cần thiết để doanh nghiệp tiếp tục sản xuất. Chi phí sản xuất đã bao gồm mọi thứ cần để doanh nghiệp sẵn sàng tham gia thị trường: lao động, nguyên liệu, nghiên cứu phát triển, bù đắp rủi ro, lợi nhuận hợp lý cho nhà đầu tư và nhà sáng lập. Phần vượt lên trên là địa tô.
Theo cách hiểu này, địa tô không cần thiết cho sản xuất. Về nguyên tắc, nhà nước có thể chuyển phần thặng dư ấy cho người tiêu dùng bằng giá thấp hơn, cho người lao động bằng lương cao hơn, hoặc cho xã hội bằng thuế cao hơn mà không làm doanh nghiệp ngừng sản xuất. Vấn đề là chính trị, ai được hưởng phần của cải dư ra đó.
Các nhà cấp tiến đầu thế kỷ 20 hiểu rằng bất bình đẳng không chỉ đến từ thị trường độc quyền hay các tập đoàn lớn. Ngay cả thị trường cạnh tranh cũng có thể tạo địa tô, vì mỗi doanh nghiệp có chi phí sản xuất khác nhau. Cạnh tranh có thể kéo giá xuống mức chi phí của doanh nghiệp biên, tức doanh nghiệp có chi phí cao nhất vẫn còn tồn tại trên thị trường. Nhưng các doanh nghiệp có chi phí thấp hơn vẫn thu được phần chênh lệch. Do đó, ngay cả khi thị trường không có độc quyền, doanh nghiệp vẫn có thể nắm giữ thặng dư.
Đây chính là lý do các nhà cấp tiến ban đầu không đặt chống độc quyền ở trung tâm chương trình. Họ ưu tiên ba công cụ trực tiếp hơn là nhà nước điều tiết giá để người tiêu dùng không phải trả quá cao; công đoàn giúp người lao động đòi phần thặng dư qua tiền lương; thuế lũy tiến lấy lại phần lợi nhuận vượt mức mà doanh nghiệp vẫn giữ được.
New Deal mạnh hơn nhờ điều tiết
Trong nhiều thập niên, các lực lượng cấp tiến Mỹ đấu tranh để chính phủ có quyền điều tiết giá. Đối thủ cho rằng khi nhà nước ấn định giá bán, quyền tài sản của doanh nghiệp bị xâm phạm. Nhưng thực tế trong những thập niên đầu của nền cộng hòa Mỹ, kiểm soát giá từng là điều bình thường. Tòa án có thể buộc doanh nghiệp thu giá thấp, kể cả khi chưa có cơ quan điều tiết chuyên trách.
Từ cuối thế kỷ 19, tư tưởng tự do kinh tế kiểu laissez-faire mạnh lên, khiến điều tiết giá bị coi là vi phạm tự do kinh doanh. Các nhà cấp tiến phản công bằng lập luận cho rằng chủ sở hữu không có quyền tự nhiên với địa tô. Đến năm 1944, sau nhiều thất bại pháp lý, Tòa án Tối cao Mỹ mới thực sự bác bỏ quan điểm cho rằng doanh nghiệp có quyền hiến định để giữ phần lợi nhuận vượt mức.
Cùng thời gian, các nhà cấp tiến cũng đấu tranh để bảo vệ quyền thành lập công đoàn và quyền đánh thuế của nhà nước. Sau Thế chiến II, ba trụ cột này tạo ra cấu trúc kinh tế khác hoàn toàn. Trong thập niên 1950 và 1960, khoảng 35% người lao động Mỹ thuộc công đoàn, 25% GDP nằm trong các ngành có điều tiết giá, thuế thu nhập doanh nghiệp là 53%, thuế suất biên cao nhất với thu nhập cá nhân lên tới 94%. Bất bình đẳng giảm xuống mức thấp kỷ lục. Chống độc quyền có tồn tại, nhưng chỉ là miếng vá trên mạng lưới điều tiết rộng hơn.
Ngay cả những người dẫn dắt thời kỳ được phe chống độc quyền ngày nay xem là “hoàng kim” cũng không thật sự tin rằng kiện chống độc quyền là công cụ tối ưu. Thurman Arnold, người được Franklin D. Roosevelt giao thúc đẩy thực thi chống độc quyền, từng chế giễu bộ luật này là công cụ biểu tượng để xoa dịu nỗi sợ trước quyền lực doanh nghiệp mà không thật sự kiềm chế được doanh nghiệp hiện đại. Thẩm phán Learned Hand, người viết một trong những phán quyết chống độc quyền nổi tiếng nhất, cũng thừa nhận ông ghét phương pháp này và thích điều tiết giá hơn.
Vì sao phe cấp tiến ngày nay đi sai hướng?
Phe cấp tiến hiện đại lẽ ra nên tiếp nối truyền thống điều tiết giá, công đoàn và thuế lũy tiến. Nhưng thay vào đó, họ chọn chống độc quyền làm trung tâm. Một phần vì họ tiếp nhận các phê phán bảo thủ về “chính phủ lớn”. Một phần vì thuế vẫn là chủ đề khó bán với cử tri. Nhưng còn một yếu tố hẹp hơn, ngành truyền thông Mỹ có lợi ích trực tiếp trong việc tấn công các nền tảng công nghệ lớn.
Từ thập niên 2010, các tờ báo mất doanh thu quảng cáo vào tay mạng xã hội và nền tảng số. Nhiều lãnh đạo báo chí và nhà báo đổ lỗi cho thế độc quyền công nghệ, thúc đẩy hàng trăm bài viết ủng hộ hành động chống độc quyền với Google, Facebook và các nền tảng lớn. Sức mạnh truyền thông khiến chính trị gia ở cả hai đảng phản ứng. Đến năm 2020, chính quyền Trump đã kiện Google và Facebook, Hạ viện do Đảng Dân chủ kiểm soát tổ chức các phiên điều trần lớn về chống độc quyền.
Vấn đề là quyền lực của các nền tảng công nghệ không nhất thiết được xử lý tốt bằng cách chia nhỏ. Với nhiều nền tảng, càng đông người dùng, dịch vụ càng hữu ích. Phá nhỏ có thể làm sản phẩm kém hiệu quả hơn, trong khi vấn đề thật sự là hành vi và phân phối lợi ích. AT&T trước đây là ví dụ điển hình. Thay vì phá vỡ ngay, các nhà cấp tiến từng dùng điều tiết giá để biến tập đoàn điện thoại thành công cụ tái phân phối. AT&T tính giá cao với dịch vụ đường dài mà doanh nghiệp và người giàu sử dụng nhiều hơn, rồi dùng lợi nhuận đó trợ cấp cho điện thoại nội hạt giá rẻ của người dân bình thường. Tập đoàn này cũng được công đoàn hóa, tạo ra việc làm lương cao cho hàng trăm nghìn lao động.
Quay lại với cơ quan điều tiết giá toàn nền kinh tế
Phe cấp tiến nên từ bỏ sự mê hoặc với chống độc quyền và quay lại ý tưởng từng được Theodore Roosevelt nêu năm 1908. Cơ quan liên bang có quyền giám sát hoạt động của các tập đoàn, bao gồm hợp đồng và giá cả. Nếu thành công, cơ quan này có thể tạo nền tảng cho chính sách giá trên toàn nền kinh tế, thay vì các cơ quan điều tiết rời rạc theo từng ngành.
Cơ quan điều tiết giá thống nhất sẽ dễ bị công chúng giám sát hơn so với hàng loạt ủy ban kỹ thuật nhỏ, vốn dễ bị ngành công nghiệp thao túng. Điều này cũng có thể giúp phe cấp tiến đảo ngược quá trình phi điều tiết từ thập niên 1970, mở rộng kiểm soát giá và trực tiếp xử lý địa tô kinh tế.
Bất bình đẳng tại Mỹ không thể được giải quyết chỉ bằng cách làm thị trường cạnh tranh hơn. Cạnh tranh có thể giảm một số khoản lợi nhuận độc quyền, nhưng không xóa được địa tô trong toàn bộ nền kinh tế. Muốn phân phối lại của cải, phe cấp tiến phải đối mặt trực tiếp với câu hỏi giá, lương và thuế. Sau giai đoạn chống độc quyền, bài toán lớn hơn là ai có quyền giữ phần thặng dư của nền kinh tế Mỹ.
shared via phenomenalworld,


