Nước Mỹ cần hồi sinh chủ nghĩa dân tộc tự do
01/06/26
![]() |
Có thời điểm, giới bình luận chính sách ở Mỹ tin công việc của họ chủ yếu dựa vào chuyên gia và số liệu: đề xuất các ý tưởng hợp lý, cân nhắc chi phí – lợi ích, sau đó hy vọng các nhà hoạch định tại Cục Dự trữ Liên bang, Quốc hội hay Nhà Trắng biến chúng thành chính sách. Nhưng kể từ năm 2016, cảm giác ấy ngày càng xa vời. Chính sách Mỹ dần bị ý thức hệ chi phối. Trong nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump, các tính toán về lợi ích công gần như bị gạt sang bên. Thuế quan và các kiểm soát nhập cư không còn là công cụ kinh tế nghiêm túc; chúng trở thành một phần của dự án bản địa chủ nghĩa và biệt lập. Phe Dân chủ ít cực đoan hơn, nhưng cũng bị kéo vào chủ nghĩa ý thức hệ, trong đó lợi nhuận doanh nghiệp thường bị coi là điều đáng ngờ.
Bởi vậy, tranh luận chính sách không thể chỉ dừng ở câu hỏi “làm thế nào”, mà buộc phải quay lại câu hỏi nền tảng hơn: nước Mỹ nên là kiểu quốc gia nào? Trong thế kỷ 20, dưới thời Franklin D. Roosevelt, Mỹ từng tìm ra câu trả lời có sức sống lớn: chủ nghĩa dân tộc tự do. Đó là hệ tư tưởng vừa coi trọng quốc gia, lòng trung thành và lợi ích chung, vừa đặt đất nước trên nền tảng định chế, quyền công dân và các lý tưởng tự do.
Lòng trung thành với ai?
Cuộc tranh luận gần đây trong giới cánh hữu Mỹ cho thấy vấn đề này rất nóng bỏng. Một bên là “Roman Helmet Guy”, nhân vật ẩn danh theo chủ nghĩa dân tộc cánh hữu, chống nhập cư. Bên kia là Balaji Srinivasan, doanh nhân công nghệ, đại diện khuynh hướng tự do cá nhân và hiện sống ở Singapore.
Roman Helmet Guy cáo buộc Balaji vô ơn với nước Mỹ. Theo ông, Balaji sinh ra, lớn lên, được giáo dục và làm giàu tại Mỹ, nên phải trung thành với người dân Mỹ, thay vì với tập hợp giá trị trừu tượng, hệ thống kinh tế hay cộng đồng toàn cầu trên internet. Trong mắt ông, giới công nghệ tận dụng nước Mỹ để tích lũy tài sản, rồi rời đi khi đất nước gặp khó khăn.
Balaji đáp trả, không dễ tách bạch thành công cá nhân khỏi “nền tảng quốc gia”. Ông nhắc tới lập luận quen thuộc của Barack Obama: “anh không tự mình xây nên điều đó”, nhưng không chấp nhận kết luận thành công hoàn toàn thuộc về quốc gia. Với Balaji, nếu chính phủ Mỹ thất bại, phân cực chính trị vượt khỏi tầm kiểm soát, hoặc khoản nợ 175 nghìn tỷ USD kéo sụp quốc gia từng vĩ đại, internet vẫn còn đó. Theo ông, không gian mạng phản ánh những giá trị tốt đẹp nhất của Mỹ: thương mại tự do, thị trường tự do, tự do ngôn luận và trao đổi ý tưởng.
Cuộc tranh luận nhanh chóng chạm tới câu hỏi cốt lõi: trung thành với quốc gia đồng nghĩa trung thành với điều gì? Với Roman Helmet Guy, quốc gia trước hết là người dân. Với Balaji, quốc gia là định chế và lý tưởng. Balaji thậm chí nhận định nước Mỹ chia đôi thành “Mỹ đỏ” và “Mỹ xanh”; nếu trung thành với 75 triệu cử tri Kamala Harris, liệu còn trung thành với phe còn lại hay không?
Lập luận ấy quá phóng đại. Nước Mỹ không ở trong nội chiến, rủi ro đối với thân thể hay tài sản của Balaji nếu ở lại Mỹ rất nhỏ, và thật vô lý khi nói chỉ có thể trung thành với một nửa dân chúng. Tuy nhiên, Balaji đúng ở điểm: không ai có nghĩa vụ đạo đức phải ở lại quốc gia quê hương nếu nơi ấy sụp đổ hoặc rơi vào tay chế độ tàn bạo. Người tị nạn không phải kẻ phản bội.
Vì sao “ở lại” là nghĩa vụ công dân?
Dù vậy, Roman Helmet Guy cũng có phần đúng. Một quốc gia nơi tất cả người giàu, tài năng và có ảnh hưởng đều rời đi ngay khi khó khăn xuất hiện là quốc gia yếu. Thay đổi xã hội cần tiếng nói, không chỉ cần lối thoát. Nếu những người có nguồn lực dễ dàng bỏ đi, cuối cùng sẽ chẳng còn nơi nào đủ vững để họ chạy tới.
Nhà nước cần đánh thuế người giàu và doanh nghiệp nhằm tài trợ cho quốc phòng, tòa án, hạ tầng, khoa học và mạng lưới an sinh. Nếu vốn và người giàu luôn dễ dàng dịch chuyển, việc tăng thuế gần như bất khả thi. Khi ấy, các quốc gia chỉ còn lựa chọn giữa dịch vụ công thiếu vốn và thâm hụt bùng nổ. Ở lại, đóng thuế và gánh vác một phần chi phí quốc gia là hình thức hoàn trả rất thực tế.
Người giàu cũng nợ hệ thống giúp họ giàu lên. Doanh nhân nhập cư vào Mỹ không phải ngẫu nhiên. Elon Musk khó có thể xây PayPal, Tesla hay SpaceX ở Nam Phi. Bất kỳ nhà nước vận hành được nào cũng tạo cơ hội thăng tiến tốt hơn vô chính phủ; có thể thấy rõ điều đó nếu thử làm giàu ở Somalia.
Ưu thế Mỹ đến từ định chế: tòa án đáng tin cậy, quyền sở hữu tài sản, an ninh công cộng, hỗ trợ nghiên cứu. Nhưng cũng đến từ người dân: công nhân sửa đường, người xây văn phòng, người đóng thuế tài trợ tòa án, đường sá và khoa học, những công dân tuân thủ luật pháp giúp hệ thống không bị quá tải. Balaji kiếm hàng triệu USD đầu tiên nhờ Counsyl, công ty genomics hưởng lợi lớn từ nghiên cứu genomics do người nộp thuế tài trợ. Khoản tiền ấy đến từ người Mỹ bình thường. Không thể định giá chính xác món nợ, nhưng sự biết ơn là điều hợp lý.
Sự bế tắc của chủ nghĩa dân tộc cánh hữu
Vấn đề nằm ở chỗ, Roman Helmet Guy không trả lời được câu hỏi quan trọng nhất: “người dân Mỹ” là ai? Ông nói bản thân xem tất cả công dân Mỹ là anh chị em, bất kể chính trị hay xuất thân. Nhưng nếu quốc tịch là tiêu chuẩn, thì người nhập cư sau khi tuyên thệ cũng lập tức trở thành người Mỹ thực sự. Nếu vậy, tại sao phải phản đối nhập cư quyết liệt, khi nhập cư chỉ mở rộng gia đình quốc gia?
Nếu quốc tịch không đủ, tiêu chuẩn nào thay thế? Chủng tộc, tôn giáo, huyết thống, hay số thế hệ sống trên đất Mỹ? Đây là bế tắc của chủ nghĩa dân tộc cánh hữu. Nếu chấp nhận quốc tịch là nền tảng của căn tính Mỹ, phải thừa nhận nhập cư có thể tạo ra người Mỹ. Nếu bác bỏ quốc tịch, buộc phải dùng phép thử hẹp hơn, chia rẽ hơn và cuối cùng không khả thi.
Mọi khái niệm như “người Mỹ di sản” đều vấp vào ranh giới tùy tiện. Chỉ tính người Tin Lành da trắng gốc Anglo-Saxon (WASP), rồi loại người Công giáo? Không thể thắng cử. Tính cả Công giáo nhưng loại người Do Thái? Tính cả người Do Thái nhưng loại người gốc Hoa, Ấn Độ, Mexico? Còn người Mỹ da đen thì sao? Bất kỳ nỗ lực nào nhằm xác định lõi “người Mỹ” bằng sắc tộc, tôn giáo hay chủng tộc đều khó đứng vững trong chính trị đại chúng.
Thực tế, đa số người Mỹ ở cả hai đảng vẫn nghiêng về chủ nghĩa dân tộc công dân. Họ coi quốc tịch, niềm tin vào Hiến pháp và Tuyên ngôn Độc lập, tuân thủ pháp luật và tham gia bầu cử là những yếu tố quan trọng nhất giúp trở thành người Mỹ thực sự. Sự ủng hộ đối với nhập cư tay nghề cao (kiểu nhập cư đưa cha mẹ Balaji và hàng triệu người Ấn Độ tới Mỹ) vẫn rất cao trong cả phe Cộng hòa lẫn Dân chủ.
Nhưng bác bỏ chủ nghĩa dân tộc cánh hữu không đồng nghĩa với chấp nhận chủ nghĩa toàn cầu không gốc rễ. Internet tạo ra “cộng đồng dọc” của người cùng sở thích và tư tưởng, nhưng không thể thay thế cộng đồng địa lý. Đường sá, trường học, cảnh sát, quốc phòng và các hàng hóa công khác chỉ có thể được cung cấp trong những không gian cụ thể, bởi chính quyền cụ thể, cho cộng đồng cụ thể.
Khi người dân không cảm thấy có quan hệ thân thuộc với cộng đồng, cung cấp hàng hóa công trở nên khó khăn. Khó xây đường nếu cử tri tin lợi ích chủ yếu rơi vào tay nhóm họ không ưa. Khó xây nhà nếu cư dân nghĩ người họ không thích sẽ chuyển đến. Mạng lưới an sinh khó tồn tại nếu phúc lợi bị xem là chảy sang những nhóm bị nghi kỵ. Với quốc gia đa dạng như Mỹ, chỉ nói “đa văn hóa” vẫn chưa đủ. Cả đất nước cần có cảm giác chung số phận.
Di sản Roosevelt
Trong thế kỷ 20, Mỹ từng có hệ tư tưởng làm được điều đó: chủ nghĩa dân tộc tự do của Franklin D. Roosevelt và những người kế tục (bao gồm các tổng thống Cộng hòa như Dwight Eisenhower). FDR không hoàn hảo. Trong Thế chiến II, Ông đưa khoảng 80.000 người Mỹ gốc Nhật vào trại tập trung và thỏa hiệp với phe phân biệt chủng tộc. Nhưng trong bối cảnh chủ nghĩa bài ngoại và phân biệt chủng tộc lên cao ở Mỹ và thế giới, Roosevelt vẫn cố kéo đất nước về hướng đa nguyên.
Ông chấm dứt chính sách đồng hóa cưỡng bức với người Mỹ bản địa và trao cho họ nhiều quyền tự chủ hơn trên đất bộ lạc, duy trì nhóm cố vấn da đen, lập nhiều chương trình hỗ trợ kinh tế cho người gốc phi, quảng bá thành tựu văn hóa và lưu giữ lời chứng của các cựu nô lệ. Chính quyền Roosevelt thúc đẩy hiểu biết giữa các cộng đồng tôn giáo, góp phần giảm thành kiến chống Công giáo và bài Do Thái; và tổ chức dự án Nhà văn Liên bang nhằm thuê các nhà văn ghi chép sự đa dạng văn hóa Mỹ.
Đồng thời, FDR quảng bá mạnh mẽ hình tượng Mỹ là quốc gia của người nhập cư. Năm 1943, Bộ Chiến tranh làm bộ phim “Don’t Be a Sucker” (Đừng để bị lừa), phát hành năm 1947, cổ vũ đoàn kết quốc gia và chế giễu những kẻ mị dân chia rẽ đất nước theo sắc tộc và tôn giáo.
Thời điểm đó, những người theo đuổi chủ nghĩa dân tộc tự do không phải các nhà cấp tiến đa văn hóa theo nghĩa hiện đại. Trong Thế chiến II, họ tin vào lòng yêu nước, định chế, mục tiêu chung và văn hóa công dân có thể vượt lên khác biệt xuất thân. New Deal đầy những nỗ lực biến căn tính Mỹ thành tôn giáo công dân, đủ bao phủ nhiều cộng đồng, nhưng vẫn mạnh mẽ ràng buộc họ vào nền tảng quốc gia chung.
Di sản ấy vẫn còn trong niềm tin của nhiều người Mỹ, nhưng bị giới hoạt động chính trị bỏ rơi. Chính sách Mỹ trở nên rối loạn vì đất nước bị chia rẽ giữa hai dự án cực đoan: thu hẹp căn tính quốc gia theo huyết thống và bản địa tính; và nghi ngờ chính ý niệm quốc gia chung. Hệ tư tưởng từng giúp Mỹ đánh bại phát xít,, rèn luyện xã hội đa sắc tộc thành quốc gia thống nhất, và duy trì thịnh vượng cùng ưu thế kinh tế trong 70 năm vẫn còn đó. Nước Mỹ cần đưa Chủ nghĩa dân tộc tự do trở lại.
shared via noahpinion,



