Khi chiến tranh phủ bóng Dubai
16/04/26
![]() |
| Cư dân các khu phố Dubai như Satwa bị ảnh hưởng nặng nề bởi suy thoái kinh tế. Ảnh: Natalie Naccache |
Dubai tránh được đổ nát. Nhưng với hàng triệu lao động nhập cư, cái giá của xung đột hiện ra trong những tháng lương bị cắt, những kỳ nghỉ không lương và nỗi lo bị đưa về nước.
Dubai đứng vững dù chỉ trên bề mặt
Dubai từ lâu được quảng bá như ốc đảo của thương mại, du lịch và lạc quan giữa khu vực thường xuyên bất ổn. Thành phố này gắn với hình ảnh trung tâm mua sắm hào nhoáng, khách sạn năm sao đông nghịt và sân bay quốc tế luôn sáng đèn. Nhưng chiến tranh, ngay cả khi không đánh sập cao ốc hay thiêu rụi hạ tầng, vẫn để lại những vết rạn sâu trong nền kinh tế thực. Và ở Dubai, những vết rạn ấy lộ ra rõ nhất trên vai những người ít có khả năng chống đỡ nhất: lực lượng lao động nhập cư.
Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất phần lớn tránh được cảnh tàn phá và thương vong quy mô lớn mà nhiều nước khác trong khu vực phải hứng chịu. Đa số drone và tên lửa Iran phóng sang bị đánh chặn. Bề ngoài, điều đó cho phép Dubai duy trì dáng vẻ của một thành phố vẫn vận hành, vẫn an toàn, vẫn đứng ngoài vùng tâm chấn. Song, chiến tranh không cần phá hủy các tòa tháp để làm tổn thương nền kinh tế. Chỉ cần nó khiến du khách ngừng tới, người nước ngoài vội rời đi và doanh nghiệp co cụm chi tiêu, guồng máy của một thành phố dịch vụ cũng đủ chao đảo.
Đó chính là điều đang xảy ra. Các khách sạn sang trọng rơi vào cảnh vắng khách. Những sự kiện lớn bị hoãn. Sân bay vốn nổi tiếng đông đúc đến mức gần như không bao giờ ngủ bỗng trở nên thưa vắng, hàng quán trong nhà ga cũng đóng cửa. Với nền kinh tế ngày càng dựa vào du lịch và dịch vụ, đây không chỉ là cú sốc ngắn hạn; nó còn là lời nhắc rằng những ngành tưởng như mềm mại và sinh lợi nhất lại đặc biệt dễ tổn thương trước biến động địa chính trị.
Đối tượng trả giá đầu tiên
Tác động, dĩ nhiên, không được phân bổ đồng đều. Những người đầu tiên phải gánh cú sốc là lực lượng lao động nhập cư vận hành các khách sạn, nhà hàng, cửa hàng bán lẻ, công trường xây dựng và siêu thị. Họ là bộ máy vô hình đằng sau hào quang của Dubai, nhưng cũng là nhóm ít được bảo vệ nhất khi thị trường quay đầu. Một nữ nhân viên bán hàng người Philippines bị buộc nghỉ việc không lương trong nhiều tuần và sống trong nỗi lo bị hồi hương. Một công nhân xây dựng người Sri Lanka vẫn nhận lương cơ bản, nhưng mất khoản làm thêm vốn là phần thiết yếu để nuôi gia đình ở quê nhà. Một nhân viên siêu thị khác chờ lương đến muộn, trong lúc visa lao động sắp hết hạn mà vẫn chưa biết có được gia hạn hay không.
Những câu chuyện ấy cho thấy ở Dubai, chiến tranh không nhất thiết biểu hiện bằng còi báo động hay đống đổ nát. Nó hiện ra qua bữa ăn bị rút xuống còn một lần mỗi ngày, qua khoản tiền gửi về quê bị teo tóp, qua nỗi thấp thỏm rằng tháng tới mình còn được ở lại hay không. Với nhiều lao động nhập cư, thu nhập ở Dubai không chỉ là tiền lương cho cuộc sống hiện tại, mà còn là sợi dây nuôi cả một gia đình ở Philippines, Sri Lanka hay những nước khác. Khi sợi dây ấy chùng xuống, hệ quả không dừng ở một cá nhân hay hợp đồng lao động; nó lan qua biên giới, tới những căn bếp và học phí ở quê nhà.
Nền kinh tế của những con người vô hình
Giới chức Emirati gần đây từng nhấn mạnh vai trò ngày càng lớn của du lịch trong tăng trưởng quốc gia. Theo số liệu, lĩnh vực này trong năm 2025 tạo ra hơn 79 tỷ USD, tương đương khoảng 15% GDP quốc gia, một mức tăng rất mạnh so với vài năm trước đó. Điều ấy cho thấy Dubai và UAE không chỉ bán dầu, bất động sản hay dịch vụ tài chính; họ còn bán hình ảnh ổn định, tiện nghi và cởi mở. Nhưng chính mô hình ấy khiến thành phố đặc biệt nhạy cảm trước chiến tranh. Một khi cảm giác an toàn suy giảm, dòng khách và dòng tiền cũng chững lại gần như ngay lập tức.
Ở trung tâm của mô hình là lao động ngoại quốc. UAE có khoảng 8,7 triệu lao động nhập cư, chiếm hơn 80% dân số. Không nhiều quốc gia trên thế giới phụ thuộc sâu đến thế vào lực lượng lao động nước ngoài. Họ xây dựng đường sá, phục vụ trong nhà hàng, lau dọn phòng khách sạn, bán hàng trong các trung tâm thương mại và giữ cho các ngành dịch vụ vận hành trơn tru. Thế nhưng khi kinh tế giảm tốc, chính họ lại thường là những người đầu tiên bị cắt lương, buộc nghỉ việc hoặc đưa về nước.
Điều này không mới trong các nền kinh tế vùng Vịnh. Nhiều năm qua, các nước khu vực này bị chỉ trích vì tình trạng bóc lột và lạm dụng bộ phận lao động nhập cư từ điều kiện sống chật chội đến việc bị giữ hộ chiếu hay đối mặt với nguy cơ trả đũa nếu lên tiếng. Chiến tranh không tạo ra những lỗ hổng ấy; nó chỉ làm chúng lộ rõ hơn. Khi việc làm khan hiếm và doanh nghiệp chịu áp lực cắt giảm chi phí, phần rủi ro thường bị chuyển nguyên sang những người lao động vốn sống sát mép sinh tồn. Human Rights Watch, đã kêu gọi doanh nghiệp duy trì nghĩa vụ hợp đồng và bảo vệ người lao động trong thời kỳ suy thoái do xung đột gây ra. Lời kêu gọi ấy hợp lý, nhưng khó có sức nặng nếu không đi kèm cơ chế giám sát và thực thi mạnh hơn.
Cái giá của chiến tranh
Một lệnh ngừng bắn ngắn ngủi giữa Mỹ và Iran từng nhen nhóm hy vọng rằng tình hình có thể sớm dịu lại. Nhưng các cuộc đàm phán không đem lại đột phá, căng thẳng leo thang sau động thái mới từ Washington. Trong bối cảnh đó, sự bất định trở thành một dạng gánh nặng kinh tế riêng. Doanh nghiệp không biết nhu cầu sẽ phục hồi lúc nào. Người lao động không biết lương tháng tới có còn nguyên vẹn. Các gia đình ở nước ngoài không biết khoản kiều hối họ trông cậy có tiếp tục chảy về hay không.
Về mặt chính sách, chính phủ Emirati công bố hai gói hỗ trợ cho ngành du lịch. Đó là tín hiệu cho thấy nhà nước hiểu mức độ quan trọng của lĩnh vực này. Nhưng bài toán lớn hơn nằm ở chỗ liệu các biện pháp cứu trợ ấy có chạm được tới những người đứng dưới đáy của chuỗi giá trị hay không. Hỗ trợ doanh nghiệp có thể giúp khách sạn không đóng cửa. Nó chưa chắc giúp một nhân viên hợp đồng ngắn hạn tránh được cảnh mất việc hoặc một lao động nhập cư tiếp tục gửi tiền về nuôi con. Trong các cuộc khủng hoảng, khoảng cách giữa cứu một ngành và cứu những người làm nên ngành đó thường lớn hơn vẻ ngoài của các gói hỗ trợ.
Dubai rồi sẽ hồi phục. Các trung tâm thương mại lại sáng đèn. Sân bay đông nghịt. Du khách quay lại với những bãi biển, nhà hàng và tòa tháp kính. Song cuộc khủng hoảng để lộ sự thật: sự thịnh vượng của một đô thị toàn cầu không chỉ được đo bằng lượng khách du lịch hay doanh thu khách sạn, mà còn bằng mức độ an toàn kinh tế dành cho những người giữ cho nó vận hành. Nếu cú sốc đầu tiên luôn được chuyển xuống những người nghèo nhất, thì mô hình tăng trưởng ấy có thể hiệu quả, nhưng khó bền vững.
Ở Dubai hôm nay, chiến tranh vẫn chưa phá hủy đường chân trời. Nhưng nó đang bào mòn nền móng xã hội bên dưới. Và trong nhiều trường hợp, cái giá của xung đột không được đo bằng những gì bị đánh sập, mà bằng những đời sống bị đẩy tới sát mép chịu đựng.
shared via nytimes,



