“Người mua đầu tiên”: mắt xích bị bỏ quên trong đổi mới công nghệ
07/07/26
Đổi mới không chỉ cần vốn, bằng sáng chế hay ưu đãi thuế. Nhiều công nghệ lớn còn cần lực đỡ khác: “người mua đầu tiên”, những tổ chức công hoặc tư sẵn sàng mua sản phẩm khi công nghệ còn non trẻ, chưa đủ rẻ, đủ tốt hoặc đủ quy mô tự đứng vững trên thị trường.
Lý do rất đơn giản. Nghiên cứu và phát triển tạo ra lợi ích lan tỏa khổng lồ cho xã hội. Một nghiên cứu nổi tiếng ước tính, về dài hạn, 98% giá trị của đổi mới thuộc về xã hội nói chung, chỉ 2% thuộc về những người đóng góp then chốt vào phát minh. Vì thế, các chính phủ quen với việc bảo vệ sở hữu trí tuệ thông qua bằng sáng chế, bản quyền, bí mật thương mại, đồng thời tài trợ nghiên cứu qua trợ cấp, tín dụng thuế, phòng thí nghiệm công và viện hàn lâm. Nhưng như Bell Labs từng chỉ rõ, đổi mới là quá trình gồm phát hiện, phát triển và tạo thị trường. Bước cuối cùng này thường bị xem nhẹ.
“Người mua đầu tiên” giúp lấp khoảng trống giữa công nghệ hứa hẹn và thị trường thực sự. Matt Clifford gọi vai trò tương tự là “người mua mạo hiểm”: Bộ Quốc phòng Mỹ từng giúp DARPA nối khoảng cách giữa nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thương mại bằng việc tạo nhu cầu thực trước khi khu vực tư nhân sẵn sàng trả tiền.
NASA và bài học từ linh kiện bán dẫn
NASA là ví dụ kinh điển. Khi bắt đầu chương trình Apollo, cơ quan này dùng công nghệ tính toán lõi dây, trong đó các nhà khoa học thật sự luồn mạch bằng dây và nam châm. Ống chân không nhanh hơn nhưng quá kém tin cậy cho các nhiệm vụ không gian. Transistor (linh kiện bán dẫn) khi đó vừa ra đời từ Bell Labs, còn lớn và chưa ổn định. Những linh kiện đầu tiên rộng khoảng 1 cm²; ngày nay có thể đặt khoảng 15 tỷ linh kiện trong cùng diện tích.
NASA nhận ra đây là công nghệ cần thiết để lên Mặt Trăng và bắt đầu mua với quy mô lớn. Năm 1962, chính phủ liên bang Mỹ mua toàn bộ mạch tích hợp được sản xuất trên thế giới. Đến năm 1965, tỷ lệ này giảm còn 72%, trong khi thị trường Linh kiện bán dẫn đã lớn gấp 20 lần. Đơn hàng công tạo ra áp lực cải tiến mà trợ cấp nghiên cứu đơn thuần khó làm được: công nghệ non trẻ vừa có tiền, vừa phải hoạt động trong điều kiện gần thị trường.
COTS và sự trỗi dậy của SpaceX
Một trường hợp khác là chương trình Dịch vụ Vận tải Quỹ đạo Thương mại của NASA (COTS), kéo dài từ năm 2006–2013. Mục tiêu tạo ra phương án tiếp tế Trạm Vũ trụ Quốc tế sau khi tàu con thoi ngừng hoạt động. Thay vì tự phát triển chương trình mới, NASA muốn khu vực tư nhân cạnh tranh, thử nghiệm và cung cấp dịch vụ với chi phí thấp hơn.
Rủi ro với doanh nghiệp rất lớn: họ phải đầu tư cho những ý tưởng có thể thất bại, trong khi đối thủ sao chép phần thành công. Vì vậy, NASA cam kết trở thành khách hàng nền tảng trong nhiều năm sau khi tàu con thoi nghỉ hưu, tạo nhu cầu ổn định cho doanh nghiệp. Cơ chế “người mua đầu tiên” chỉ là một phần của chương trình: chính phủ còn chi khoảng 800 triệu USD tài trợ trực tiếp, cùng 1 tỷ USD từ khu vực tư nhân. Nhưng đó là phần thiết yếu.
Nhờ tài trợ theo mốc và nhu cầu được bảo đảm, COTS thu hút nhiều doanh nghiệp, kể cả startup. Một trong số đó là SpaceX. Cuối năm 2008, Elon Musk nói ông phải chọn SpaceX hoặc Tesla, hoặc chia nốt số tiền còn lại và có thể cả hai cùng chết. Hai ngày trước Giáng sinh, SpaceX được trao hợp đồng COTS, thoát bờ vực phá sản. Đến năm 2012, SpaceX chưa có vụ phóng nào; sáu năm sau, công ty chiếm hơn một nửa số vụ phóng vào quỹ đạo và trở thành công ty tư nhân đầu tiên đưa phi hành gia lên Trạm Vũ trụ Quốc tế. Falcon 9 cũng rẻ hơn 10 lần so với phương án NASA tự phát triển trong nội bộ.
Từ vaccine đến khí hậu
Operation Warp Speed (Chiến dịch Thần tốc), chương trình của chính phủ Mỹ nhằm thúc đẩy phát triển, sản xuất và mua trước vaccine trong đại dịch Covid-19 là ví dụ điển hình tiếp theo. Mỹ dùng hợp đồng mua trước để rót vốn cho các ứng viên vaccine trước khi thị trường có thể bảo đảm nhu cầu. Anh và nhiều nước cũng mua vaccine trước khi được phê duyệt. Rủi ro là trả tiền cho công ty thất bại, nhưng trong khủng hoảng, đó là điều đáng chấp nhận. Ngày 20/3/2020, từ đáy đại dịch của S&P 500, thị trường chứng khoán và cổ phiếu vaccine cùng tăng gần 100%. Nhưng mức tăng ấy tương đương khoảng 500 tỷ USD cho các công ty vaccine và 20.000 tỷ USD cho thị trường rộng hơn, cho thấy lợi ích xã hội vượt xa phần doanh nghiệp có thể tự thu về.
Stripe Climate dùng logic tương tự cho công nghệ thu giữ carbon trực tiếp từ không khí. Công nghệ này cần thiết để đạt mục tiêu khí hậu, nhưng hiện rất đắt và thường thua lỗ. Stripe mua trước lượng carbon được loại bỏ, giúp doanh nghiệp giảm chi phí dần tới mức có thể sống trong thị trường mở.
Khi nào nên dùng
Cơ chế này hiệu quả nhất khi mục tiêu rõ ràng: đưa hàng lên Trạm Vũ trụ Quốc tế, tạo vaccine Covid an toàn ở quy mô lớn, hoặc mua carbon được loại khỏi khí quyển. Giair pháp này không thay thế bằng sáng chế, tài trợ nghiên cứu hay tín dụng thuế; chỉ bổ sung cho chúng khi xã hội biết đích đến nhưng chưa có thị trường đủ lớn để kéo công nghệ tới đó. Ứng dụng tương lai là phân hạch và nhiệt hạch hạt nhân là ví dụ nổi bật. Bob Mumgaard – nhà sáng lập Commonwealth Fusion Systems, công ty về năng lượng nhiệt hạch, ước tính cần khoảng 10 tỷ USD để đưa nhiệt hạch vượt điểm hòa vốn năng lượng. Đây là con số lớn, nhưng nhỏ hơn gần 100 lần chi tiêu năng lượng hằng năm của Mỹ.
Khi mục tiêu đủ rõ, chính phủ và các tổ chức tư nhân có định hướng xã hội không chỉ nên tài trợ nghiên cứu. Họ nên cân nhắc trở thành “người mua đầu tiên”. Đôi khi, cách tốt nhất để nuôi ý tưởng lớn là mua sản phẩm trước khi thị trường dám làm điều đó.
shared via works in progress,



