Venezuela mắc kẹt trong lời nguyền dầu mỏ
17/06/26
Venezuela sở hữu trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới, nhưng ngành dầu khí từng nuôi sống cả quốc gia lại trở thành điểm yếu chí tử của chính quyền Nicolás Maduro. Khi sản lượng lao dốc, trừng phạt siết chặt và các đồng minh như Trung Quốc, Nga, Iran chỉ giúp Caracas cầm cự, Venezuela cho thấy mặt tối của nền kinh tế sống quá lâu bằng địa tô dầu mỏ.
Từ cường quốc dầu mỏ đến nền kinh tế kiệt quệ
Petróleos de Venezuela, thường được biết đến với tên PDVSA, từng là biểu tượng của sức mạnh quốc gia Venezuela. Công ty dầu khí nhà nước này kiểm soát trữ lượng dầu thô lớn nhất thế giới và trong nhiều thập niên là nguồn tài chính chính cho ngân sách, phúc lợi xã hội và tham vọng địa chính trị của Caracas. Tuy nhiên, biểu tượng này đã sụp đổ. Từ mức khoảng 3 triệu thùng/ngày năm 2013, sản lượng dầu của Venezuela hiện chỉ còn khoảng 800.000 thùng/ngày. Cú giảm khoảng 70% này không chỉ là câu chuyện kỹ thuật của ngành công nghiệp xuống cấp mà là cuộc khủng hoảng của cả mô hình phát triển.
Dầu từng chiếm tới 96% xuất khẩu của Venezuela. Khi dòng tiền dầu cạn, nhà nước mất khả năng duy trì các chương trình phúc lợi, kiểm soát lạm phát, nhập khẩu hàng hóa thiết yếu và bảo đảm đời sống xã hội. Siêu lạm phát, thiếu hụt hàng hóa, nghèo đói và làn sóng di cư lớn nhất trong lịch sử hiện đại Mỹ Latinh đều có chung gốc rễ: Venezuela đặt quá nhiều vận mệnh quốc gia vào dầu.
Mô hình phát triển dựa trên địa tô
Từ vụ phun trào giếng Barroso II năm 1922, dầu mỏ trở thành trục chính của kinh tế và chính trị Venezuela. Nửa sau thế kỷ 20, nguồn thu dầu tài trợ cho đô thị hóa, hạ tầng, dịch vụ công và sự hình thành tầng lớp trung lưu. Năm 1976, PDVSA được thành lập, sau quốc hữu hóa ngành dầu khí giúp nhà nước kiểm soát trực tiếp địa tô dầu mỏ. Trong giai đoạn hoàng kim, mô hình này tạo cảm giác thịnh vượng. Nhà nước trở thành nhà cung cấp chính của hàng hóa và dịch vụ, trong khi khu vực tư nhân phát triển yếu hơn. Thuế khóa không cần mở rộng mạnh vì dầu trả thay phần lớn hóa đơn quốc gia.
Song, chính thành công này lại gieo mầm lệ thuộc. Giá dầu tăng, chi tiêu công phình ra; giá dầu giảm, nền kinh tế lập tức chao đảo. Cuộc khủng hoảng giá dầu cuối thập niên 1990, cùng khủng hoảng ngân hàng và bất mãn xã hội mở đường cho chiến thắng của Hugo Chávez năm 1998.
Chávez và phúc lợi dầu mỏ
Chávez đưa dầu vào trung tâm của dự án chính trị mang tên Chavismo. Chính quyền mới tăng kiểm soát với PDVSA, dùng nguồn thu dầu để mở rộng các chương trình xã hội, gọi là “sứ mệnh” phúc lợi. Hiến pháp năm 1999 và Luật Hydrocarbon năm 2001 củng cố nguyên tắc nhà nước kiểm soát tài nguyên dưới lòng đất. Từ năm 2003, PDVSA bắt đầu tài trợ trực tiếp cho các chương trình phúc lợi với quy mô hàng trăm triệu USD mỗi năm. Đến năm 2005, Quỹ Phát triển Quốc gia, được tài trợ bằng nguồn dầu ra đời. PDVSA không chỉ là doanh nghiệp năng lượng; nó trở thành cỗ máy tài chính của nhà nước, đảng cầm quyền và hệ thống phúc lợi.
Trong thời giá dầu cao, mô hình này đem lại tính chính danh chính trị cho Chávez. Song cũng khiến PDVSA gánh quá nhiều nhiệm vụ ngoài sản xuất dầu. Đầu tư giảm, quản trị suy yếu, năng lực kỹ thuật mai một. Khi Nicolás Maduro lên nắm quyền năm 2013, nền móng rạn nứt. Cú sụt 76% của giá dầu năm 2014 chỉ làm quá trình sụp đổ diễn ra nhanh hơn.
Trừng phạt và vòng xoáy cô lập
Từ năm 2014, chính quyền Maduro đối mặt với trừng phạt của Mỹ. Năm 2019, Washington siết mạnh hơn với PDVSA và Ngân hàng Trung ương Venezuela. Mục tiêu là bóp nguồn thu dầu, buộc chính quyền thay đổi hành vi chính trị. Kết quả là PDVSA càng khó tiếp cận thị trường tài chính, tái cấp vốn, bán dầu và duy trì hoạt động. Các lệnh trừng phạt không phải nguyên nhân duy nhất khiến ngành dầu Venezuela suy yếu; quản trị kém, thiếu đầu tư và chính trị hóa PDVSA đã có từ trước. Tuy nhiên, trừng phạt làm cuộc khủng hoảng sâu hơn, đẩy Caracas vào các mạng lưới giao dịch mờ ám và các liên minh ngoài phương Tây.
Để có tiền, Maduro thử nhiều phương án: khai thác Vành đai Khai khoáng Orinoco, phát hành đồng tiền số “petro” được quảng bá là gắn với dầu mỏ, bán tài sản chiến lược. Song các thử nghiệm này thất bại hoặc chỉ làm lợi cho tầng lớp cầm quyền, quân đội và các đồng minh nước ngoài.
Trung Quốc, Nga, Iran và mạng lưới sinh tồn
Bị cô lập khỏi thị trường phương Tây, Venezuela tìm đến Trung Quốc, Nga và Iran. Với Trung Quốc, nền tảng quan hệ là mô hình “vốn đổi dầu” có từ thời Chávez. Bắc Kinh cho Caracas vay khoảng 67 tỷ USD, phần lớn được hoàn trả bằng dầu thô. Tuy nhiên, khi sản lượng lao dốc, thỏa thuận ngày càng khó duy trì. Trung Quốc vẫn hỗ trợ Maduro, song thận trọng hơn, chuyển từ cho vay lớn sang đầu tư có điều kiện trong hạ tầng, công nghệ, viễn thông và quân sự.
Sau trừng phạt, Nga đóng vai trò then chốt trong thương mại dầu Venezuela. Rosneft và các công ty liên quan giúp Caracas bán dầu qua mạng lưới phức tạp, đưa dầu tới các thị trường châu Á. Khi bản thân Nga bị trừng phạt sau cuộc chiến Ukraine, các kênh này cũng chịu áp lực. Iran là đồng minh bất ngờ nhưng hợp logic. Cả Tehran và Caracas đều bị phương Tây trừng phạt, đều cần cơ chế né tránh và đều dùng năng lượng như công cụ sinh tồn. Iran gửi nhiên liệu, linh kiện và hỗ trợ kỹ thuật để khôi phục nhà máy lọc dầu Venezuela. Đổi lại, Caracas mở đường cho Tehran tiếp cận vàng và các nguồn lực chiến lược. Các liên minh này giúp Maduro cầm cự, nhưng không thay đổi bản chất mô hình: Venezuela vẫn sống bằng dầu, chỉ là bán dầu qua những đường vòng đắt đỏ, thiếu minh bạch và nhiều rủi ro hơn.
Chevron và lối thoát hạn chế
Năm 2023, chính quyền Biden nới một số trừng phạt nhằm khuyến khích bầu cử tự do thông qua Thỏa thuận Barbados. Song đến giữa năm 2024, trừng phạt được khôi phục sau khi Tòa án Tối cao Venezuela chặn chiến dịch của lãnh đạo đối lập María Corina Machado.
Washington vẫn giữ khe cửa hẹp: Giấy phép chung 41 cho phép Chevron tiếp tục một số hoạt động hạn chế tại Venezuela đến tháng 4/2025. Chevron có thể tham gia khoan thêm giếng tại Vành đai Dầu Orinoco và tăng sản lượng cùng PDVSA. Tuy nhiên, công ty vẫn bị giới hạn, không được mở rộng sang mỏ mới hoặc trả cổ tức cho PDVSA. Điều này phản ánh chiến lược kép của Mỹ: giữ một số kênh kinh tế mở cho doanh nghiệp Mỹ, đồng thời duy trì đòn bẩy chính trị với Maduro.
Tương lai vẫn bị trói vào dầu
Venezuela tìm thêm lối đi qua xuất khẩu khí đốt sang Colombia và tranh chấp vùng Esequibo với Guyana, nơi phát hiện các mỏ dầu ngoài khơi lớn. Tuy nhiên, những hướng này cũng đầy rủi ro chính trị, kỹ thuật và địa chính trị. Sau hơn hai thập niên Chavismo, Venezuela chưa thoát khỏi lời nguyền dầu mỏ. Dầu từng tạo ra nhà nước phúc lợi, nuôi tham vọng chủ quyền và giúp chính quyền xây dựng mạng lưới đồng minh. Song khi sản lượng giảm và trừng phạt siết chặt, chính tài sản này trở thành chiếc neo kéo đất nước xuống. Maduro vẫn đặt cược vào PDVSA, Orinoco, Chevron, Trung Quốc, Nga và Iran. Tuy nhiên, đây là chiến lược sinh tồn hơn là phát triển. Nền kinh tế không thể phục hồi bền vững nếu chỉ tìm cách bán thêm dầu trong bóng tối, thay vì xây lại thể chế, đa dạng hóa sản xuất và khôi phục niềm tin. Venezuela không thiếu dầu, nước này thiếu mô hình phát triển không bị dầu thống trị.
shared via phenomenalworld,



