Vì sao Mỹ nên điều tiết sản lượng dầu trở lại?
11/09/26
Ngay cả trong đáy Đại suy thoái, các nhà sản xuất dầu vẫn được trả mức giá dương cho sản phẩm. Tuy nhiên, ngày 20/4/2020, giá dầu West Texas Intermediate rơi xuống mức âm, chạm đáy kỷ lục âm 37,86 USD/thùng. Dù sau đó giá dầu phục hồi, mức giá âm cho thấy thị trường dầu Mỹ có vấn đề sâu hơn cú sốc nhất thời.
Trong cùng ngày, dầu Brent, chuẩn giá toàn cầu, vẫn giao dịch ở mức dương 17,36 USD/thùng. Khoảng cách hơn 50 USD giữa hai chuẩn giá cho thấy sự khác biệt lớn trong cách thị trường được quản lý. OPEC+, cùng Nga, Mexico và nhiều nước sản xuất dầu khác, đã phối hợp cắt giảm sản lượng để cân bằng cung cầu. Mỹ để thị trường tự điều chỉnh.
Sau cú sập giá, nhiều nhà sản xuất dầu kêu gọi Ủy ban Đường sắt Texas can thiệp để điều tiết sản lượng. Tuy nhiên, các ủy viên cho rằng giá giảm sẽ tự buộc doanh nghiệp cắt bớt khai thác, từ đó cân bằng thị trường. Cách nghĩ này có điểm đúng. Sản lượng Mỹ đã giảm nhanh khi giá rơi xuống âm. Nhưng khi giá phục hồi, sản lượng có thể tăng trở lại, tạo tiền đề cho cú sập tiếp theo.
Cơ chế cũ từng hoạt động
Giải pháp là khôi phục hệ thống phân bổ sản lượng theo nhu cầu thị trường. Đây không phải ý tưởng mới. Từ thập niên 1930 đến năm 1972, Ủy ban Đường sắt Texas từng phát minh và vận hành thành công cơ chế này. Nếu áp dụng lại, Mỹ có thể phối hợp sản lượng trong nước với các nhà sản xuất lớn khác, thậm chí tham gia OPEC+ để cùng điều tiết thị trường dầu toàn cầu.
Lịch sử của Ủy ban Đường sắt Texas bắt đầu từ đường sắt, nhưng quyền lực của cơ quan này mở rộng sang dầu mỏ khi dầu được vận chuyển bằng đường sắt, rồi đường ống. Texas có vị trí đặc biệt vì khi gia nhập Mỹ năm 1845, bang này giữ quyền kiểm soát đất công. Nhiều mỏ dầu sau đó được phát hiện dưới các vùng đất ấy.
Vấn đề nằm ở đặc tính của dầu. Vì dầu là tài nguyên có thể dịch chuyển dưới lòng đất, chủ đất có động cơ bơm càng nhanh càng tốt để “bắt” dầu trước người khác. Luật khai thác theo nguyên tắc ai lấy trước thì sở hữu càng khuyến khích bơm quá mức, làm cạn kiệt mỏ nhanh hơn và gây hại cho cả ngành.
Từ năm 1919, cơ chế phân bổ sản lượng ra đời để hạn chế khai thác. Các giếng dầu chỉ được vận hành trong một số ngày nhất định mỗi tháng. Nếu nhà sản xuất muốn bơm nhiều hơn hoặc ít hơn, họ có thể trao đổi quyền sản xuất với nhau, nhưng tổng sản lượng của cả mỏ không đổi.
Từ bảo tồn tài nguyên đến ổn định giá
Đến thập niên 1930, cơ chế này có thêm ý nghĩa kinh tế. Mỏ dầu Đông Texas, phát hiện năm 1930, chứa khoảng 5,5 tỷ thùng dầu. Dầu tràn vào thị trường vốn đã suy yếu vì Đại suy thoái, khiến giá sụp từ trên 1 USD xuống khoảng 25 xu/thùng.
Trong bối cảnh này, hạn chế sản lượng là cách duy nhất để cứu ngành dầu và tránh lãng phí tài nguyên. Ban đầu, các lệnh phân bổ bị tòa án xem là thao túng giá. Tuy nhiên, khi nhiều nhà sản xuất nhỏ vẫn tiếp tục bơm dầu, thống đốc Texas phải điều Vệ binh Quốc gia để thực thi lệnh hạn chế sản lượng.
Sau đó, chính phủ liên bang hỗ trợ các bang bằng cách cấm vận chuyển qua ranh giới bang những lượng dầu vượt hạn mức, thường gọi là “dầu nóng”. Đạo luật Connolly Hot Oil năm 1935 vẫn còn hiệu lực, nghĩa là khung pháp lý để hỗ trợ điều tiết sản lượng cấp bang chưa biến mất.
Trong thời kỳ hoàng kim, hệ thống của Texas giúp ổn định giá, bảo tồn tài nguyên và tạo công suất dự phòng. Khi Thế chiến II nổ ra, chính nhờ công suất dự phòng ấy, Texas có thể nhanh chóng tăng sản lượng để phục vụ “kho vũ khí của nền dân chủ”. Năm 1960, OPEC ra đời, phần nào dựa trên thành công của mô hình Texas và có sự tham gia trực tiếp của các kỹ sư từng làm trong hệ thống này.
Điều tiết để quản lý đoạn cuối của dầu mỏ
Sau năm 1972, khi nhu cầu vượt quá nguồn cung từ các mỏ Texas, cơ chế phân bổ sản lượng mất vai trò. Ủy ban Đường sắt Texas dần chuyển từ cơ quan điều tiết sang đại diện lợi ích của ngành dầu. Từ đó, thị trường dầu Mỹ bước vào chu kỳ bùng nổ và sụp đổ quen thuộc.
Nên nhìn lại tư tưởng của Gardiner Means, nhà kinh tế thời New Deal, người phân biệt giữa giá thị trường và giá được quản lý. Với những ngành có cầu yếu, nếu doanh nghiệp không kiểm soát sản lượng, giá có thể sụp đổ dù sản xuất vẫn cao. Điều này từng xảy ra với nông nghiệp và dầu mỏ trong Đại suy thoái, và lặp lại trong cú sốc năm 2020.
Khôi phục phân bổ sản lượng không chỉ giúp giảm biến động giá. Việc này còn có lợi cho môi trường. Khi sản lượng được kiểm soát, đầu tư vào công nghệ xanh có thể được khuyến khích, sự suy giảm của ngành dầu được quản lý trật tự hơn, và các cộng đồng phụ thuộc vào khai thác tránh được cú sụp đổ như nhiều vùng than đá từng trải qua.
Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu hàng đầu thế giới. Nếu quay lại vai trò điều phối, với Texas làm trung tâm, Mỹ có thể cắt giảm sản lượng cùng các nhà sản xuất lớn như Ả rập Saudi và Nga. Trong hồi cuối của dầu mỏ, câu hỏi không phải là để thị trường tự do đẩy ngành này qua những chu kỳ hỗn loạn, mà là liệu nhà nước có đủ năng lực quản lý sự thoái lui ấy một cách có trật tự hay không.
shared via phenomenalworld,



