Giỏ hàng

Sức ì của trật tự thương mại toàn cầu

 

Di sản từ làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên
 
Trong làn sóng toàn cầu hóa đầu tiên, từ 1870–1913, phân công lao động toàn cầu có thứ bậc rất rõ. Anh và các quốc gia phương Tây chủ yếu sản xuất hàng công nghiệp, đồng thời xuất khẩu các nông sản ôn đới như lúa mì, thịt bò và lúa mạch. Trong các đế chế thuộc địa châu Âu, nhiều vùng đất bị gắn với các sản phẩm như bông, ca cao, cà phê (thường được bán với giá rất thấp), và dựa trên lao động cưỡng bức để phục vụ nhu cầu ngày càng lớn ở lõi kinh tế toàn cầu đối với các hàng hóa nhiệt đới xa xỉ.
 
Hơn một thế kỷ sau Thế chiến I, trật tự ấy sụp đổ về mặt chính trị. Tuy nhiên câu hỏi lớn vẫn còn: Trong làn sóng toàn cầu hóa thứ hai (định hình thế giới từ thập niên 1980) hiện đang suy yếu, di sản kinh tế của toàn cầu hóa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 ảnh hưởng thế nào tới vị trí của các nước?
 
Vì sao các nước không tự động bắt kịp
 
Lý thuyết tăng trưởng tân cổ điển thường dựa vào giả thuyết hội tụ: Trong dài hạn, điều kiện ban đầu không quyết định phân phối thu nhập bình quân đầu người. Theo logic này, nếu thị trường vận hành tự do, các nước nghèo sẽ tăng trưởng nhanh hơn và dần bắt kịp nước giàu. Tuy nhiên, bằng chứng thực nghiệm không ủng hộ kỳ vọng ấy. Nhiều nghiên cứu về “tính dai dẳng” tìm cách giải thích vì sao trật tự giàu nghèo kéo dài, thường viện dẫn chất lượng thể chế, quyền sở hữu, dân chủ đại diện tự do, văn hóa, tôn giáo, địa lý, thậm chí di truyền.
 
Nghiên cứu mới của Isabella Weber cùng Gregor Semieniuk, Tom Westland và Junshang Liang đi theo hướng khác: thay vì giải thích bằng yếu tố ngoài kinh tế, họ xem xét năng lực sản xuất của các quốc gia. Quốc gia càng có nhiều năng lực sản xuất, càng có thể cạnh tranh trong nhiều lĩnh vực và do đó có cơ cấu xuất khẩu đa dạng hơn. Đồng thời, năng lực sản xuất hiện có tiếp tục giúp phát triển thêm năng lực mới. Nói cách khác, năng lực sản xuất tự sinh ra năng lực sản xuất.
 
Ví dụ, các nước đã có ngành chip, ô tô và điện thoại thông minh cạnh tranh dễ phát triển xe thông minh hơn đất nước chỉ xuất khẩu nông sản.
 
Cơ sở dữ liệu xuất khẩu của thế giới cũ
 
Để kiểm định tính dai dẳng này, nhóm nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu lớn về xuất khẩu hàng hóa toàn cầu trong giai đoạn 1897–1906, thời kỳ đỉnh cao của thống kê thương mại thuộc địa. Họ sử dụng nhiều nguồn sơ cấp bằng năm ngôn ngữ và khẳng định đây là cuộc “kiểm kê” tham vọng nhất cho tới nay về xuất khẩu thế giới trong làn sóng toàn cầu hóa trước. Cách tiếp cận này cho phép nghiên cứu trên phát triển dài hạn tốt hơn dữ liệu GDP (vốn thưa và không đáng tin cậy ở nhiều khu vực trước Thế chiến II).
 
Nhóm nghiên cứu quy đổi dữ liệu lịch sử sang Hệ thống Phân loại Thương mại Quốc tế Tiêu chuẩn, nhờ đó có thể đo nhất quán các chỉ báo như đa dạng hóa xuất khẩu, độ phức tạp kinh tế, mức tinh vi của xuất khẩu và tỷ trọng hàng chế tạo trong xuất khẩu trong một thế kỷ.
 
Kết quả thể hiện sự bền bỉ đáng kể. Bản đồ đa dạng hóa xuất khẩu qua hai thời kỳ toàn cầu hóa cho thấy châu Âu và Bắc Mỹ vẫn thống trị, dù trải qua nhiều thập niên phi công nghiệp hóa. Sự trỗi dậy gần đây của châu Á tương tự sự tái xuất hiện ở một số quốc gia chủ chốt. Ngược lại, châu Phi phần lớn vẫn mắc kẹt ở đáy thứ bậc đa dạng hóa, thậm chí nhiều nước ngày nay bị xếp ở thứ hạng thấp hơn thời bị cai trị trực tiếp. Mỹ Latinh có một số trường hợp bắt kịp, trong khi Đông Âu và Trung Đông nhìn chung tụt lại.
 
Xuất khẩu quá khứ định hình thu nhập hiện tại
 
Chỉ số phức tạp kinh tế kết hợp cùng thông tin về mức đa dạng của nền kinh tế và độ phổ biến của hàng hóa xuất khẩu, cũng cho kết quả tương tự: ở một thế kỷ trước, quốc gia càng phức tạp về kinh tế hiện tại sẽ càng rối loạn. Đồng thời, các chỉ báo khác về năng lực sản xuất cho quan hệ dương và mạnh. Phân tích kinh tế lượng xác nhận tác động lịch sử này có ý nghĩa thống kê, quy mô lớn và đứng vững sau khi kiểm soát các biến thường được xem là động lực tăng trưởng như tự do hóa kinh tế, vốn nhân lực và chất lượng thể chế. Bên cạnh đó, kết quả cũng không bị chi phối bởi sự dai dẳng của địa lý hay thể chế.
 
Đặc biệt, cơ cấu xuất khẩu trong làn sóng toàn cầu hóa trước kia góp phần giải thích hơn một nửa phương sai của GDP thực bình quân đầu người hiện nay. Hnahf động xuất khẩu trong quá khứ của một quốc gia có liên quan trực tiếp tới vị trí hiện tại của nước đó trên nấc thang phát triển.
 
Trật tự phát triển không chỉ là sản phẩm của văn hóa, địa lý hay di truyền, mà bắt nguồn từ cách các quốc gia bị tích hợp vào phân công lao động toàn cầu ngay từ đầu. Sau này, các lực lượng cạnh tranh tái xây dựng cùng thứ bậc năng lực sản xuất. Tuy nhiên, thuộc địa hóa vẫn để lại bóng tối riêng: Đầu thế kỷ 21, các thuộc địa hải ngoại của châu Âu bị tụt lại xa hơn. Vì vậy, quán tính lịch sử của năng lực sản xuất là bước đầu để hiểu bất bình đẳng phát triển, tuy nhiên di sản thuộc địa cần được lý giải như vấn đề riêng.
 
shared via phenomenal world, 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên