“Vàng xanh” Indonesia và cái giá của nền kinh tế dầu cọ
29/05/26
Liên minh châu Âu là một trong những thị trường quan trọng nhất của dầu cọ Indonesia. Dù giá trị xuất khẩu sang khu vực này nhỏ hơn Trung Quốc và Ấn Độ, châu Âu lại trả giá cao hơn, khiến đây trở thành thị trường thiết yếu với nền kinh tế Indonesia. Dầu cọ cũng hiện diện trong nhiều sản phẩm châu Âu, từ xà phòng, ô tô đến nhiên liệu sinh học.
Nhưng quan hệ này đang chịu sức ép từ Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR). Chính sách này yêu cầu dầu cọ vào thị trường EU phải có khả năng truy xuất nguồn gốc, được sản xuất có đạo đức, phát thải thấp và không liên quan đến phá rừng. Nếu không đáp ứng, Indonesia có thể mất quyền tiếp cận thị trường giá trị cao, trong khi dầu cọ là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực.
Airlangga Hartarto, cựu Bộ trưởng Điều phối Kinh tế Indonesia từng gọi EUDR là một dạng “chủ nghĩa đế quốc quy định”. Tuy nhiên, bất chấp áp lực từ bên ngoài, chính phủ Indonesia vẫn tiếp tục gắn chặt với sản xuất dầu cọ. Hiện nay, sau lệnh tạm dừng cấp phép giai đoạn 2018–2021, diện tích đồn điền vẫn tăng từ 16 triệu ha năm 2018 lên gần 20 triệu ha. Các chuyên gia dự báo đến năm 2030, con số này có thể đạt 30 triệu ha. Indonesia hiện chiếm khoảng 60% thị trường dầu cọ toàn cầu.
Gốc rễ thuộc địa của cây cọ dầu
Cọ dầu không phải cây bản địa Indonesia. Năm 1848, khi các nhà thực vật học Hà Lan đưa giống cây này tới Đông Ấn thuộc Hà Lan, cây cọ ban đầu chỉ được xem như cây trang trí. Phải đến năm 1910, Adrian Hallet, nhà đồn điền người Bỉ mới phát triển sản xuất cọ dầu ở Deli, nay thuộc Bắc Sumatra. Một năm trước đó, Hallet lập Socfin, tập đoàn nông nghiệp đến nay vẫn là nhân tố lớn trong ngành dầu cọ Indonesia.
Sự trỗi dậy của dầu cọ gắn với nền kinh tế cây công nghiệp thuộc địa. Luật Đất đai năm 1870 cho phép nhà nước kiểm soát đất đai và kéo dài thời hạn thuê đất cho công ty tư nhân nước ngoài lên 75 năm. Chính sách này thúc đẩy bùng nổ đồn điền, đồng thời phục vụ nhu cầu của đế quốc Hà Lan và thị trường chính quốc.
Trong thời kỳ thuộc địa, các đồn điền chủ yếu do chính quyền hoặc tư nhân vận hành, chưa có vai trò đáng kể của nông dân địa phương. Nông hộ nhỏ chỉ trở thành nhân tố quan trọng từ thập niên 1980, khi chuỗi cung ứng dầu cọ thay đổi sâu sắc.
Từ tư nhân hóa đến bùng nổ đồn điền
Từ thập niên 1980, ngành dầu cọ Indonesia bùng nổ. Năm 1990, diện tích đồn điền tăng từ 250.000 ha năm 1978 lên 1 triệu ha. Trước đó, ngành này chủ yếu nằm trong tay doanh nghiệp nhà nước, nhưng đến năm 1986, các công ty tư nhân trong nước đã chiếm 60% tổng diện tích nhượng quyền.
Quá trình tư nhân hóa này gắn với biến động chính trị sau cuộc diệt chủng chống cộng năm 1965, sự kiện đã xóa sổ nhiều lực lượng công nhân, nông dân và cánh tả. Sau đó, Indonesia mở cửa mạnh hơn cho vốn trong và ngoài nước trong khai khoáng, rừng và tài nguyên đất. Dù vốn nước ngoài vẫn bị hạn chế trong sở hữu đất trực tiếp, các đồn điền dầu cọ được vận hành bởi tư bản trong nước, trong liên minh với giới tinh hoa nhà nước, quân đội và vốn ngoại.
Chính quyền Suharto từng có cơ hội dùng nguồn thu từ dầu mỏ và cây công nghiệp để thúc đẩy công nghiệp chế tạo. Nhưng sau cú bùng nổ giá dầu năm 1973, kế hoạch công nghiệp hóa chững lại, trọng tâm chuyển sang mở rộng đồn điền. Quân đội cũng tham gia sâu vào lĩnh vực này, củng cố thêm quan hệ thân hữu giữa nhà nước, doanh nghiệp và quyền lực quân sự.
Nông hộ nhỏ trong chuỗi cung ứng toàn cầu
Sự mở rộng dầu cọ không chỉ do doanh nghiệp lớn. Ngân hàng Thế giới và các tổ chức phát triển quốc tế cũng góp phần quan trọng thông qua chương trình di dân nội địa. Chương trình này chuyển các hộ gia đình từ khu vực đông dân đến vùng nông thôn để làm nông, trong đó cọ dầu là cây trồng chủ lực. Năm 1995, khi chương trình kết thúc, Ngân hàng Thế giới đã cho vay khoảng nửa tỷ USD.
Mô hình này tạo ra hệ thống Đồn điền Hạt nhân, trong đó công ty chia một phần đất nhượng quyền cho nông hộ di cư. Về lý thuyết, nông hộ được trao đất và nhà ở, rồi trả nợ trong 7–10 năm bằng sản lượng thu hoạch. Nhưng trên thực tế, chương trình đẩy nhiều chi phí sản xuất sang nông hộ nhỏ. Họ phải tự lo vận chuyển, lưu kho, phân phối và thường lệ thuộc vào các công ty đồn điền có vốn cùng hạ tầng xử lý.
Chương trình được quảng bá là giúp nông dân thoát khỏi quyền lực doanh nghiệp cuối cùng lại củng cố quyền lực của chính các doanh nghiệp ấy. Nông hộ nhỏ trở thành mắt xích quan trọng trong sản xuất dầu cọ nhưng vẫn bị khóa trong quan hệ phụ thuộc.
Chứng nhận bền vững và quyền lực bị che khuất
Ngày nay, khi EUDR và các tiêu chuẩn quốc tế yêu cầu truy xuất nguồn gốc, chứng nhận bền vững và cam kết không phá rừng, nông hộ nhỏ tiếp tục là mục tiêu chính của các chương trình này. Nhiều công ty hợp tác với tổ chức phát triển quốc tế để giúp nông hộ lập bản đồ đất, chứng nhận và đáp ứng tiêu chuẩn.
Tuy nhiên, các công cụ tài chính và chứng nhận này cũng tạo ra phân hóa. Một số nông hộ thành công tự xem mình khác với hình ảnh nông dân nghèo truyền thống. Nhưng nhiều cộng đồng bản địa và địa phương không được hưởng lợi, vì tham gia chương trình thường đồng nghĩa với mất rừng làng hoặc đất tập quán.
Công nhân đồn điền dễ bị tổn thương hơn. Nhiều người là lao động thời vụ, bấp bênh và sợ bị trả đũa. Khi kiểm toán viên chứng nhận đến kiểm tra, công nhân có thể bị quản lý đe dọa, buộc không được nói điều làm xấu hình ảnh công ty. Trong không gian đồn điền bị cô lập, việc tổ chức lao động và phản kháng trở nên rất khó.
Hai thập niên qua, xung đột trong các đồn điền dầu cọ gia tăng, từ chiếm đất, nợ của nông hộ, ô nhiễm môi trường đến vi phạm quyền lao động. Dù vậy, chính phủ Indonesia vẫn tiếp tục cấp phép đồn điền, kể cả với những trường hợp kém hiệu quả hoặc lấn vào rừng được bảo vệ.
“Xanh” nhưng ai trả giá?
Các sáng kiến bền vững hiện nay thường nhấn mạnh quyền của người tiêu dùng và khả năng truy xuất nguồn gốc, nhưng lại che khuất lịch sử quyền lực đã tạo ra ngành dầu cọ. Indonesia cung cấp lao động và hàng hóa giá rẻ để phục vụ các công nghệ “bền vững” đắt đỏ như nhiên liệu sinh học và xe điện. Nông hộ phải trả tiền cho bên thứ ba để lập bản đồ đất. Công nhân đôi khi phải tự mua thiết bị bảo hộ để giúp công ty đạt mục tiêu bền vững.
Những con dấu “bền vững” vì vậy không nhất thiết làm thay đổi cấu trúc bóc lột. Chúng có thể hợp pháp hóa hình thức khai thác mới, trong đó các nước giàu tiếp tục kiểm soát tiêu chuẩn, tài chính và thị trường, người lao động và nông dân ở ngoại vi gánh chi phí.
Khuôn khổ mới cho dầu cọ Indonesia phải nhìn nhận lịch sử ngành này như quan hệ giữa mở rộng đế quốc và bóc lột trong nước. Công nhân và nông dân Indonesia đã yêu cầu thỏa thuận mới trong quản trị dầu cọ, không bỏ mặc họ trong các nỗ lực giảm phát thải và bảo vệ đa dạng sinh học. Chính họ đã phải trả giá cho thứ “vàng xanh” nuôi sống thị trường toàn cầu quá lâu.
shared via phenomenalworld,


