Nước Mỹ và nỗi ám ảnh suy tàn
23/07/26
Sáu thập niên qua, giới tinh hoa Mỹ nhiều lần tin rằng quyền lực của Mỹ đang đi xuống: sau Sputnik, Việt Nam, khủng hoảng năng lượng, sự trỗi dậy của Nhật Bản, cú sốc Trump và cạnh tranh với Trung Quốc. Điều lạ là các cơn hoảng loạn thường không chỉ dự báo suy tàn; chúng còn giúp nước Mỹ tự điều chỉnh. Tuy nhiên, khi nền tảng chính trị và năng lực công nghiệp đều bị nghi ngờ, câu hỏi hôm nay không còn là “liệu người bi quan có sai”, mà là “liệu họ chỉ sai vì đến quá sớm”.
Nỗi lo suy tàn cũ của nước Mỹ
Adam Smith từng trấn an người Anh, “trong quốc gia có rất nhiều khả năng chịu đựng sự hư hại”. Câu hỏi là bao nhiêu. Với nước Mỹ, nỗi lo trở lại theo chu kỳ trong gần 60 năm. Mỗi khi có cú sốc lớn, từ cánh tả đến cánh hữu trung dung lại xuất hiện làn sóng cảnh báo thời đại Mỹ đang kết thúc. Cuối thập niên 1980, khi Chiến tranh Lạnh sắp ngã ngũ, nhà khoa học chính trị Samuel Huntington viết trên tạp chí Foreign Affairs để phản bác luận điểm suy tàn. Đây là thời điểm nhiều người Mỹ lo lắng. Paul Tsonga, ứng viên tổng thống Đảng Dân chủ tóm lược tâm trạng bằng câu nói nổi tiếng: “Chiến tranh Lạnh kết thúc; Nhật Bản và Đức chiến thắng.” Huntington không tin như vậy. Ông nhắc rằng nước Mỹ từng đi qua nhiều cơn hoảng loạn tương tự: cuối thập niên 1950, Sputnik, cuối thập niên 1960, Việt Nam, thập niên 1970, khủng hoảng năng lượng, và thập niên 1980 với Nhật Bản. Lần nào cũng có người dự báo nước Mỹ sắp mất vị thế và lời tiên tri đều không thành hiện thực. Tuy nhiên, Huntington không chế nhạo người bi quan. Ông cho rằng chính họ giúp nước Mỹ tránh điều họ dự báo. Theo ông, nước Mỹ khó suy tàn chừng nào công chúng còn tin rằng nó sắp suy tàn. Nỗi sợ suy giảm, trong cách nhìn này, là lời nói dối hữu ích: tạo áp lực chính trị để tăng đầu tư, củng cố quốc phòng, cải cách giáo dục, tái thiết công nghiệp và huy động nhà nước.
Sputnik và công dụng của hoảng loạn
Trường hợp điển hình là Sputnik. Ngày 4/10/1957, Liên Xô phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên. Vì Sputnik được đưa lên quỹ đạo bằng tên lửa đạn đạo liên lục địa cải tiến, thành tựu khoa học này lập tức được diễn giải thành mối đe dọa trực tiếp với an toàn của người Mỹ. Cùng lúc, kinh tế Mỹ rơi vào suy thoái nặng nhất kể từ thập niên 1930. Từ giữa năm 1953 – 1958, sản lượng công nghiệp và việc làm tư nhân đều giảm. Toàn bộ thời Eisenhower, GDP thực bình quân đầu người chỉ tăng hơn 1%/năm. Các điểm yếu tương đối của Mỹ – tăng trưởng, nghiên cứu và phát triển, giáo dục, đào tạo kỹ sư – được xâu chuỗi thành câu chuyện khẩn cấp.
Câu chuyện có phần cường điệu. Sau này, “Khoảng cách tên lửa” John F. Kennedy và Đảng Dân chủ dùng trong cuộc bầu cử 1960 được chứng minh là phóng đại. Theo một số chuyên gia, Liên Xô có hàng nghìn tên lửa liên lục địa, cao hơn ước tính của CIA tới hai bậc độ lớn, trong khi chính CIA cũng đánh giá quá cao. Tuy nhiên, nỗi sợ tạo ra kết quả thật; thúc đẩy tăng chi tiêu quốc phòng, mua sắm quân sự, đầu tư công mang tính bán quân sự và chính sách tăng trưởng. Với Huntington, đây là bằng chứng rằng diễn ngôn suy tàn có thể trở thành công cụ tái sinh quyền lực quốc gia.
Việt Nam, dầu mỏ và Chiến tranh Lạnh thứ hai
Cuối thập niên 1960, công thức bắt đầu lộ giới hạn. Cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân và khủng hoảng niềm tin vào đồng USD cho thấy Mỹ không thể vô hạn kết hợp chiến tranh, mở rộng kinh tế trong nước và vai trò tiền tệ toàn cầu. Sau năm 1971, trật tự vàng - USD chấm dứt. Thập niên 1970 tiếp tục đem đến suy thoái dài, hàng chục triệu người thất nghiệp trong thế giới tư bản và thách thức từ chủ nghĩa dân tộc tài nguyên. Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ, tức OPEC, làm rung chuyển trật tự kinh tế quốc tế. Nhiều nhà quan sát tuyên bố đồng USD hết vai trò tiền tệ quốc tế. Các cuốn sách cảnh báo sụp đổ tiền tệ và khủng hoảng đầu tư trở thành sách bán chạy. Trong bối cảnh ấy, liên minh tinh hoa muốn khôi phục cảm giác về mối đe dọa Liên Xô. Eugene Rostow, thành viên Ủy ban về Mối nguy Hiện hữu, từng viết nước Mỹ cần một Trân Châu Cảng để thức tỉnh. Cách nói này hé lộ thói quen lâu đời: nếu khủng hoảng chưa đủ rõ, người ta có thể thổi phồng để tạo đồng thuận chính trị. Ronald Reagan hưởng lợi từ làn sóng. Ngân sách quốc phòng tăng mạnh, dù ngay cả lịch sử chính thức của Bộ Quốc phòng Mỹ cũng khó kết luận việc tái vũ trang là phản ứng cần thiết trước Liên Xô hay là cách phục vụ lợi ích của tổ hợp quân sự - công nghiệp. Có lẽ là cả hai.
Cơn hoảng loạn Nhật Bản
Thập niên 1980, đối thủ trong trí tưởng tượng Mỹ không chỉ là Liên Xô, mà là Nhật Bản. Cuốn The Rise and Fall of the Great Powers (Sự trỗi dậy và suy tàn của các cường quốc, 1987) của Paul Kennedy lập luận, Mỹ đi vào vết xe “quá sức đế quốc”: chi phí quân sự lớn, tài khóa căng thẳng, trong khi Nhật Bản nhẹ gánh quốc phòng và chinh phục các thị trường dân sự. Cơn sợ Nhật Bản ngày nay nhìn lại có phần phi lý. Nhật là đồng minh bị phi quân sự hóa và phụ thuộc vào an ninh Mỹ, khó có thể là mối đe dọa chiến lược với Washington. Tuy nhiên, nhiều lãnh đạo doanh nghiệp Mỹ vẫn cảnh báo Nhật đang “cắt cổ” công nghiệp Mỹ. Vụ Toshiba bán máy công cụ cho Liên Xô được phóng đại thành bằng chứng Nhật giúp Moskva tăng sức mạnh quân sự.
Huntington bác bỏ nỗi sợ. Theo ông, Nhật thiếu hệ tư tưởng có sức hấp dẫn toàn cầu, mô hình tăng trưởng cũng bắt đầu giảm hiệu quả. Trong khi từ thập niên 1960 đến 1980, Mỹ vẫn giữ tỷ trọng ổn định trong GDP và xuất khẩu thế giới. Với ông, vấn đề của Mỹ không phải súng đạn, mà là bơ sữa: chủ nghĩa tiêu dùng mới là mối đe dọa với sức mạnh quốc gia.
Từ tự tin đến mất phương hướng
Sau Chiến tranh Lạnh, Huntington trở thành nguồn trấn an cho nhiều thế hệ tinh hoa Mỹ. Năm 2014, Tom Donilon, cựu Cố vấn An ninh Quốc gia vẫn nói chủ nghĩa suy tàn là một phần “DNA” của Mỹ, vì nó thúc đẩy đổi mới. Những thách thức như hồi phục yếu sau khủng hoảng 2008, Phong trào Trà, bất bình đẳng kiểu Piketty hay Trung Quốc đều có thể được xử lý bằng những diễn ngôn khủng hoảng. Năm 2016, Donald Trump thắng cử. Cùng thách thức từ Bernie Sanders trong nội bộ Đảng Dân chủ, cú sốc được nhìn như cuộc khủng hoảng tính chính danh của chủ nghĩa tư bản tự do và toàn cầu hóa. Sau đó, Jake Sullivan kết luận chiến thắng của Trump phản ánh sự cạn kiệt của mô hình kinh tế hậu Chiến tranh Lạnh.
Điều đáng chú ý là nền tảng của sự tự tin thập niên 1990 từng có cơ sở thật. Sau năm 1986, sản xuất Mỹ phục hồi lợi nhuận đáng kể. Cuối thập niên 1990, đầu tư tư nhân cố định vượt các đỉnh của thời hoàng kim trước Reagan. Công nghiệp ô tô, thép và máy móc trải qua tái cấu trúc đau đớn nhưng không hoàn toàn biến mất. trong thập niên 1990, việc làm ô tô tăng gần 300.000, dù không trở lại đúng nơi cũ, không còn bảo đảm xã hội như trước và ít được công đoàn hóa hơn. Quan trọng hơn, Mỹ thống trị sản xuất công nghệ cao. Cuối thập niên 1990, 35% sản lượng công nghệ cao toàn cầu nằm ở Mỹ. Nước này chiếm 77% doanh số hàng không vũ trụ, 75% máy tính và thiết bị văn phòng, 91% phần mềm máy tính và 62% dược phẩm toàn cầu. Vì thế, phe chống suy tàn từng thắng thế. Song các dấu hiệu rạn nứt tích tụ. Sau năm 2000, sản lượng công nghiệp chế tạo không còn tăng như trước. Từ năm 1975 – 2000, chỉ số sản xuất công nghiệp trong chế tạo tăng hơn gấp đôi; từ năm 2000 – 2025, giảm nhẹ. Những biểu tượng như Boeing và Intel bắt đầu trở thành bằng chứng khó né về năng lực sản xuất suy yếu.
Lần này liệu có khác?
Câu hỏi hôm nay là liệu cơ chế mà Huntington mô tả còn hoạt động hay không. Trước đây, nỗi sợ suy tàn giúp huy động nền chính trị đủ mở và nền kinh tế đủ cạnh tranh để tự đổi mới. Song cả hai trụ cột ấy hiện đều bị nghi ngờ. Về chính trị, nước Mỹ sau năm 2020 chứng kiến bước ngoặt an ninh quốc gia ngày càng cứng rắn, đi kèm đàn áp trong nước và đồng thuận lưỡng đảng quanh ngôn ngữ “an ninh” cho mọi vấn đề. Về kinh tế, chính sách công nghiệp và bảo hộ thương mại trở lại, nhưng thường dưới hình thức phiêu lưu, thiếu phối hợp và dễ biến thành công cụ chính trị ngắn hạn. Mỹ vẫn có thể là cực mạnh nhất trong thế giới đa cực. Trung Quốc có năng lực sản xuất đáng kinh ngạc, nhưng chưa chắc có được hệ tư tưởng hấp dẫn toàn cầu hay khả năng hóa giải mâu thuẫn xã hội trong nước. Mỹ cũng không cần toàn năng để vẫn thống trị; chỉ cần các đối thủ yếu hơn về quân sự và liên minh. Tuy nhiên, tuyên bố bá quyền của Mỹ ngày càng kém thuyết phục. Diễn ngôn khủng hoảng, từng giúp tạo đồng thuận để tái thiết, nay có nguy cơ làm xói mòn chính những điều kiện tái thiết ấy. Khi mọi thứ đều được gọi là khủng hoảng, khủng hoảng không còn huy động được niềm tin mà chỉ tạo thêm nghi ngờ, chia rẽ và phản ứng cực đoan.
Bài học từ lịch sử không phải người bi quan luôn sai. Bài học là nước Mỹ từng đủ mạnh để biến nỗi sợ suy tàn thành động lực đổi mới. Nếu lần này nỗi sợ ấy chỉ tạo thêm bảo hộ hỗn loạn, chính trị an ninh hóa và cạnh tranh phe phái, thì lời tiên tri suy tàn có thể không còn là liều thuốc. Nó có thể trở thành triệu chứng.
shared via phenomenalworld,



