Tranh mua, tích trữ đẩy giá năng lượng leo thang
23/04/26
![]() |
| Người dân xếp hàng chờ mua bình gas nấu ăn ở New Delhi. Ảnh: Ritesh Shukla/Getty Images |
Chiến tranh siết nguồn cung từ Vịnh Ba Tư biến năng lượng thành cuộc tranh mua. Nước giàu trở nên an toàn, nước nghèo nhận phần khan hiếm.
Cơ chế giá không giống sách giáo khoa
Thời khắc khan hiếm, thị trường thường được ca tụng như công cụ phân bổ hiệu quả. Nhưng hiệu quả không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với công bằng. Isabella Weber, nhà kinh tế tại Đại học Massachusetts Amherst nói rằng cơ chế dần biến thành “luật rừng”: phân bổ bằng bùng nổ giá cả vốn bất công từ gốc. Ai giàu hơn sẽ giữ được điện, nhiên liệu bay, khí đốt nấu ăn và hoạt động kinh tế. Ai nghèo hơn buộc phải cắt giảm tiêu dùng, đình công, hoặc nhìn chuỗi cung ứng rạn ra từng đoạn.
Điều làm cơ chế càng thêm nguy hiểm là nó có tính tự củng cố. Nỗi sợ thiếu hàng khiến chính phủ gom hàng nhanh hơn. Hành vi gom hàng càng củng cố rằng rủi ro có thật. Các chính phủ lao vào mua thêm, giữ thêm, khóa thêm nguồn cung. Giá tăng vì khan hiếm, nhưng giá tăng mạnh hơn vì tâm lý phòng thân.
Từ nhiên liệu bay Thái Lan đến khí nấu Ấn Độ
Những biểu hiện cụ thể của cuộc tranh mua xuất hiện khắp nơi. Trung Quốc và Thái Lan dừng xuất khẩu nhiên liệu bay để giữ nguồn trong nước. Với Thái Lan, quyết định ấy mang tính sống còn về chính trị: du lịch là trụ cột kinh tế, giá diesel tăng đủ khiến tài xế đổ xô đến cây xăng mua tích trữ, buộc nhà chức trách chuẩn bị phương án phân phối nhiên liệu theo định mức. Nhưng khi Bangkok tự bảo vệ mình, các nước nhập khẩu như Việt Nam, Myanmar và Pakistan lập tức cảm nhận sức ép thiếu nhiên liệu bay.
Ở châu Âu, các hãng hàng không lớn cảnh báo nguy cơ cạn nhiên liệu. Lufthansa cho biết giá nhiên liệu bay tăng gấp đôi và thông báo cắt 20.000 chuyến bay tới tháng 10. Châu Âu phụ thuộc tới 3/4 nguồn nhiên liệu bay từ các nhà cung cấp Vùng Vịnh, phần lớn đi qua eo Hormuz, điểm nghẽn đang ở tâm bão xung đột.
Tại Philippines, nước nhập khoảng 90% dầu từ Vịnh Ba Tư, giá xăng tăng mạnh đến mức chính phủ phải ban bố tình trạng khẩn cấp quốc gia. Tổng thống Ferdinand Marcos Jr. tung trợ cấp cho tài xế xe ba bánh và jeepney, đồng thời tạm dừng thu thuế nhiên liệu với khí dầu mỏ hóa lỏng, loại nhiên liệu nấu ăn phổ biến ở đô thị. Nhưng tài xế vẫn đình công. Ở Ấn Độ, nơi cũng phụ thuộc nhiều vào khí dầu mỏ hóa lỏng cho việc nấu nướng, nhà chức trách phải truy quét các doanh nghiệp bị nghi găm bình gas, làm trầm trọng thêm thiếu hụt. Những ví dụ cho thấy khủng hoảng năng lượng không chỉ hiện ra qua biểu đồ giá dầu Brent, nó hiện ra trong bếp nấu, sân bay và các cuộc đình công.
Nước giàu không chỉ mạnh vì tiền, mà vì có kho tích trữ
Sự bất bình đẳng trong khủng hoảng không dừng ở sức mua mà nằm ở sức chứa. Trung Quốc từ lâu lo ngại phụ thuộc năng lượng Trung Đông, nên nhiều năm qua liên tục bơm thêm dầu và khí vào các kho dự trữ chiến lược khổng lồ. Cùng lúc, nước này đầu tư mạnh vào điện gió, điện mặt trời và các nguồn điện thay thế. Dù vẫn phải mua khoảng 13% dầu từ Iran, Bắc Kinh có đủ độ sâu về kho dự trữ để giảm nguy cơ hụt hàng. Khi chiến tranh chặn bớt nguồn từ Iran, Trung Quốc xoay sang mua thêm từ Nga và Brazil. Nhập khẩu dầu thô năm nay giảm khoảng 10% so với 2025, nhưng lợi thế tồn trữ khiến cú sốc trở nên dễ chịu hơn rất nhiều so với các nền kinh tế nhỏ.
Nước nhỏ không có đặc quyền ấy. Họ không có kho, không có dự trữ ngoại hối mạnh, không có mạng lưới cung ứng thay thế đủ rộng. Trong cuộc tranh mua toàn cầu, những nước này không thua ở phút cuối, họ thua ngay từ lúc cuộc chơi bắt đầu.
Kịch bản lặp lại
Câu chuyện từng lặp lại với lương thực, thiết bị bảo hộ y tế và vaccine. Năm 1972 – 1974, khi hạn hán phá hủy mùa lúa ở Thái Lan, nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới cấm bán ra nước ngoài để giữ hàng trong nước. Đến đầu 1974, giá gạo thế giới tăng gấp bốn. Nhật Bản và Anh đơn giản trả nhiều tiền hơn để mua gạo. Bangladesh và Ấn Độ, vốn phụ thuộc nhập khẩu và thiếu dự trữ ngoại tệ, vật lộn để nuôi dân.
Kịch bản tương tự lặp lại năm 2007 – 2008. Giá lúa mì và ngô tăng làm dấy lên lo ngại về lương thực, khiến các nước phụ thuộc vào gạo như Philippines lao vào mua thêm. Ấn Độ và Việt Nam hạn chế xuất khẩu. Chỉ ít tháng sau, giá gạo tăng gấp đôi, đẩy gần một tỷ người vào cảnh nghèo hơn.
Những tháng đầu, 76 nước áp hạn chế xuất khẩu vật tư y tế thiết yếu trong đại dịch Covid-19. Trung Quốc, nguồn cung hơn 40% nhiều loại thiết bị bảo hộ, siết hàng xuất khẩu; giá bảo hộ lao dốc theo hướng ngược với khả năng tiếp cận, tức tăng vọt. Cả các chính phủ liên bang giàu có ở Bắc Mỹ và châu Âu cũng tranh mua với chính quyền địa phương. Giữa năm 2021, 3/4 số người được tiêm vaccine sống ở 10 quốc gia, trong khi phần lớn thế giới đứng ngoài. Pfizer hứa cung cấp 40 triệu liều cho Covax với giá phi lợi nhuận, chưa tới 1% trong số 11 tỷ liều ước tính cần thiết để bao phủ 70% dân số thế giới. Giữa lúc ghi nhận lợi nhuận lớn từ việc bán vaccine cho bên trả giá cao hơn, hãng mới giao cho Covax chỉ 1,25 triệu liều, ít hơn lượng sản xuất trong một ngày. Bài học từ đại dịch rất rõ; trong khủng hoảng toàn cầu, lòng yêu nước kinh tế thường thắng hợp tác quốc tế. Hậu quả không chỉ bất công mà còn tự hại tập thể.
Toàn cầu hóa phụ thuộc vào điều kiện mong manh
Khủng hoảng hiện tại làm lung lay tín điều lớn của trật tự hậu Thế chiến II: càng nhiều thương mại thế giới càng ổn định, vì hàng hóa thiết yếu luôn được phân bổ tới nơi cần. Joseph Stiglitz nói rằng khuôn khổ ấy dựa trên ý tưởng “biên giới không quan trọng”, rằng mọi thứ đều có mức giá toàn cầu. Nhưng khi các quốc gia bắt đầu găm hàng, điều đó không còn đúng nữa. Biên giới trở lại với toàn bộ sức nặng của nó.
Đây chính là nghịch lý của toàn cầu hóa trong thời khủng hoảng: hệ thống mở rộng thương mại toàn cầu làm tăng hiệu quả trong thời bình, nhưng khi niềm tin sụp đổ, cùng hệ thống ấy lại phơi bày ai có tiền, ai có kho, ai có quyền khóa hàng sau biên giới. Giá toàn cầu, nhưng khả năng tiếp cận thì không.
Năng lượng trở thành bài kiểm tra đạo đức của thị trường
Các tổ chức quốc tế cố phát tín hiệu cảnh báo. Tuần trước, IMF, Ngân hàng Thế giới và Cơ quan Năng lượng Quốc tế cùng kêu gọi các nước đừng tích trữ năng lượng hay cấm xuất khẩu, vì những biện pháp ấy chỉ làm tình hình tệ hơn cho toàn cầu. Kristalina Georgieva, Tổng giám đốc IMF, cô đọng lời khuyên bằng ba chữ: “Do no harm” – trước hết đừng gây thêm tổn hại.
Đấy là kiểu lời khuyên rất dễ đồng ý trong hội nghị, rất khó thực hiện trong khủng hoảng. Không chính phủ nào muốn là nước cuối cùng còn để thị trường mở cửa khi các nước khác đã tranh nhau khóa hàng lại. Kết quả là ai cũng bước vào “chế độ sinh tồn”. Khi mọi quốc gia cùng hành xử theo logic phòng thân, hệ quả chung là giá tăng cao, phân bổ lệch và khan hiếm lan rộng.
Rốt cuộc, khủng hoảng không chỉ nói về dầu, khí hay nhiên liệu bay. Nó nói về bản chất quyền lực trong nền kinh tế toàn cầu. Khi nguồn cung căng thẳng, thị trường không xóa bất bình đẳng, nó khuếch đại bất bình đẳng. Nước giàu trả nhiều hơn và giữ được hàng. Nước nghèo mất hàng trước. Đấy không phải sự cố hệ thống mà chính là cách hệ thống vận hành.
shared via nyitmes,



