Giỏ hàng

New Zealand đã khai sinh mục tiêu lạm phát như thế nào

Mẩu truyện tranh năm 1988 thể hiện sự hoài nghi của công chúng đối với các dự đoán của Reserve Bank. Ảnh: Malcolm Walker

Từ khủng hoảng đến cải cách
 
Ngày nay, hầu hết ngân hàng trung ương đều đặt mục tiêu lạm phát là chính phủ công bố con số mục tiêu, còn ngân hàng trung ương dùng lãi suất, dự trữ bắt buộc và nghiệp vụ thị trường nhằm đạt mục tiêu đó. Nhưng trước thập niên 1990, nhiều quốc gia vẫn nhắm vào cung tiền hoặc tỷ giá. Bước ngoặt không xuất phát từ đồng thuận học thuật, mà từ canh bạc chính trị tại New Zealand.
 
Từng là một trong những quốc gia giàu nhất thế giới nhờ đất nông nghiệp rộng, dân số ít và quan hệ thương mại ưu đãi với Anh, trong nửa sau thế kỷ 20, New Zealand bị sa sút mạnh. Khi Anh gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu, New Zealand dần mất cửa vào thị trường truyền thống. Hai cú sốc dầu năm 1973 và 1979 càng khiến tình hình xấu hơn. Từ 1960–1980, thu nhập bình quân đầu người của nước này rơi từ hạng 3 xuống hạng 17 trong 24 nước của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD).
 
Nền kinh tế khi đó bị kiểm soát nặng. Nhà nước can thiệp vào ngân hàng, bảo hiểm, tiện ích, trợ cấp lớn cho nông nghiệp, kiểm soát nhập khẩu tới mức người dân muốn đặt mua tạp chí nước ngoài cũng cần xin phép. Năm 1980, lạm phát đạt đỉnh 17,2% do giá năng lượng, thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ lỏng. Reserve Bank – NHTW chịu kiểm soát trực tiếp của chính phủ và trong giai đoạn 1976-1977, các biện pháp chống lạm phát bị loại bỏ vì xuất hiện chi phí kinh tế.
 
Năm 1984, Thủ tướng Robert Muldoon bất ngờ tuyên bố bầu cử sớm trên truyền hình. Sau khi Công đảng thắng, chính phủ mới phát hiện đồng NZD đang bị bán tháo nghiêm trọng. Trong giờ giao dịch đầu tiên sau tuyên bố bầu cử, Reserve Bank đã bán lượng ngoại tệ nhiều hơn bình thường. Nhằm bảo vệ tỷ giá, Reserve Bank và Bộ Tài chính vay 1,7 tỷ NZD, tới mức sau này, Thủ tướng David Lange nói chính phủ phải hỏi các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài còn rút được bao nhiêu tiền qua thẻ tín dụng.
 
Rogernomics và cú rẽ tiền tệ
 
Chính phủ mới khởi động loạt cải cách thị trường tự do với tên gọi Rogernomics theo tên Bộ trưởng Tài chính Roger Douglas. Đồng tiền được phá giá rồi thả nổi. Đóng băng lương bị gỡ bỏ. Doanh nghiệp nhà nước cắt nhân sự; ngành đường sắt giảm từ 21.000 xuống 5.000 người. Thuế thu nhập cao nhất giảm từ 66% xuống 33%.Năm 1994, trợ cấp công nghiệp giảm từ 16,2% chi tiêu chính phủ khi Công đảng lên nắm quyền xuống 4%.
 
Trong giai đoạn 1984–1985, cải cách ban đầu khiến làm lạm phát tăng từ 6,2% lên 15,4%. Tuy nhiên, chính phủ tin lạm phát có thể bị khuất phục, nhất là sau khi Paul Volcker tại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) kéo lạm phát từ 13,5% năm 1980 xuống 3,2% năm 1983 bằng biện pháp nâng lãi suất gần 20%.
 
Douglas và các cố vấn trao cho Reserve Bank quyền độc lập, yêu cầu ngân hàng ưu tiên giảm lạm phát thay vì các mục tiêu cũ như sản xuất, thương mại và việc làm. Đến năm 1987, lạm phát chạm 15,7%, chủ yếu do áp thuế VAT 10% năm 1986; loại bỏ yếu tố này giúp xu hướng giảm lạm phát trở nên rõ ràng.
 
Mục tiêu lạm phát ra đời gần như tình cờ
 
Năm 1988, Douglas lo ngại lạm phát có thể chững lại khi kỳ vọng lạm phát của doanh nghiệp trong hai năm vẫn ở mức 6,7%. Sau cuộc họp với cố vấn, ông bất ngờ lên truyền hình tuyên bố trong vài năm tới, muốn giảm lạm phát xuống “khoảng 0 hoặc 0–1%”. Reserve Bank và Bộ Tài chính được yêu cầu xây dựng mục tiêu công khai. Do lo sợ sai lệch đo lường, ngân hàng cộng thêm một điểm phần trăm, tạo ra vùng mục tiêu 0–2%.
 
Ban đầu, mục tiêu lạm phát chỉ là công cụ truyền thông để giữ kỳ vọng. Nhưng vì các lựa chọn khác đều yếu, đặc biệt khi nhắm cung tiền thất bại ở nhiều nước do đổi mới tài chính và phi điều tiết, nó dần trở thành khung chính sách. David J. Archer – cựu trợ lý thống đốc, cho biết mục tiêu lạm phát được chọn vì là “lựa chọn ít tệ nhất”.
 
Thiết kế thể chế mới là điểm then chốt. Tháng 12/1989, đạo luật Reserve Bank mới được thông qua và có hiệu lực vào tháng 2/1990. NHTW được độc lập trong vận hành, nhưng không tự đặt mục tiêu. Mỗi thống đốc phải thương lượng mục tiêu với Bộ trưởng Tài chính và có thể bị sa thải nếu không đạt. Chính phủ có quyền can thiệp tối đa một năm, nhưng phải công khai qua nghị quyết quốc hội. Đồng thời, Thống đốc phải công bố báo cáo chính sách tiền tệ hai lần/năm trình Quốc hội giám sát.
 
Thành công và lan rộng toàn cầu
 
Cuối năm 1992, Thống đốc Don Brash được giao đạt mục tiêu 0–2% và bất ngờ là mục tiêu đạt sớm một năm, vào tháng 12/1991. Cái giá phải trả là chính sách tiền tệ thắt chặt khiến thất nghiệp tăng từ 6,4% năm 1988 lên 11% vào ba năm sau, dù năm 1987, cú sập chứng khoán toàn cầu và các cải cách khác cũng góp phần quan trọng vào hệ quả này.
 
Trong 20 năm sau, so với thập niên 1970-1980, New Zealand đạt mức ổn định giá cả khó tưởng tượng. Đồng thời, cơ chế can thiệp chính trị không bị lạm dụng; điều khoản chính phủ ghi đè mục tiêu chưa bao giờ được dùng.
 
Mô hình nhanh chóng lan ra thế giới. Canada là quốc gia áp dụng tiếp theo. Từ 1975–1982, Canada từng nhắm vào cung tiền nhưng lạm phát vẫn ở mức trung bình 8%. Tháng 2/1991, chính phủ và Ngân hàng Canada công bố mục tiêu giảm lạm phát từ 6,2% xuống 1–3% vào năm 1995. Dù ban đầu bị nhiều NHTW nghi ngờ, Canada vẫn giảm lạm phát xuống 1,5% vào năm 1992. Kể từ thời điểm áp dụng đến năm 2018, lạm phát trung bình của Canada là 1,9%, rất gần mốc giữa 2%.
 
Từ 1992–1993, Anh, Thụy Điển, Australia và Phần Lan cũng áp dụng. Sau đó, mô hình lan sang nhiều nước phát triển và đang phát triển. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) ban đầu nghi ngờ các nước nghèo thiếu điều kiện thể chế để thực hiện giải pháp lạm phát, nhưng đổi quan điểm sau thành công ở Chile năm 1999 và Mexico năm 2001.
 
Mục tiêu lạm phát thắng thế vì giải quyết được vấn đề thực tế: cung tiền và các chỉ tiêu trung gian không phản ánh trực tiếp điều chính phủ và người dân quan tâm. Quan trọng hơn, giải pháp này giúp giữ vững kỳ vọng. Khi công chúng tin NHTW giữ vững mục tiêu, doanh nghiệp và người lao động điều chỉnh giá, lương theo niềm tin đó, giảm nhu cầu tăng lãi suất cực mạnh. Vì vậy, ý tưởng sinh ra từ phát ngôn chính trị gần như ứng khẩu ở New Zealand đã trở thành chuẩn mực của NHTW hiện đại.
 
shared via works in progress, 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên