Muốn hạ nhiệt lạm phát, phải mở rộng nguồn cung
04/09/26
![]() |
| Ảnh: Roman Bratschi/Noema |
Khi giá cả tăng, phản xạ quen thuộc của chính sách là thắt chi tiêu, nâng lãi suất và làm nguội nền kinh tế. Nhưng lạm phát sau đại dịch ở Mỹ cho thấy vấn đề lớn hơn: nền kinh tế không phải quá nóng vì chính phủ chi quá nhiều, mà quá yếu vì nhiều năm đầu tư quá ít. Nếu năng lực sản xuất, chuỗi cung ứng, nhà ở, điện lưới và dịch vụ chăm sóc không theo kịp nhu cầu, bóp cầu chỉ làm người dân nghèo hơn. Muốn “nhốt con quỷ lạm phát trở lại chiếc chai”, Mỹ phải xây lại phía cung của nền kinh tế.
Phục hồi khác với cải cách
Năm 1933, giữa Đại Khủng hoảng, John Maynard Keynes viết thư cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt, khuyên ông trước hết phải kích thích tiêu dùng và khiến doanh nghiệp quay lại việc cơ bản nhất: sản xuất và bán hàng. Sau khi guồng máy kinh tế chạy lại, chính phủ mới có thể xử lý các vấn đề cấu trúc khiến nền kinh tế không đạt hết tiềm năng. Keynes phân biệt rất rõ giữa phục hồi và cải cách: phục hồi là chi tiêu để ngăn khủng hoảng xoáy sâu; cải cách là chi tiêu để nền kinh tế không lặp lại những điểm yếu cũ.
Cuộc tranh luận ở Mỹ sau đại dịch mắc đúng sự nhầm lẫn này. Khi chính quyền Joe Biden và phe cấp tiến thúc đẩy các gói chi tiêu xã hội lớn, nhiều nghị sĩ Dân chủ ôn hòa lo ngại giá cả tăng sẽ mở ra thời kỳ lạm phát cao. Sau các gói kích thích khổng lồ thời Covid-19, họ hỏi: liệu chi thêm có khiến tình hình tệ hơn?
Câu trả lời là không hẳn. Mỹ đang chịu áp lực lạm phát không phải vì chi quá nhiều, mà vì suốt gần hai thập niên đã chi quá ít cho năng lực sản xuất, hạ tầng và sức chống chịu của nền kinh tế. Nền kinh tế thiếu năng lực dự phòng rất dễ tăng giá khi nhu cầu bật lên hoặc chuỗi cung ứng đứt gãy.
Kích thích cứu nền kinh tế
Trong giai đoạn đầu của đại dịch, chính phủ Mỹ làm đúng tinh thần Keynes. Đạo luật CARES và Kế hoạch Giải cứu nước Mỹ giúp hấp thụ cú sốc bằng bảo hiểm thất nghiệp mở rộng, chuyển tiền trực tiếp cho hộ gia đình và các khoản hỗ trợ khác. Nhờ đó, nền kinh tế tránh được Đại suy thoái mới; thậm chí sau nhiều thập niên, tỷ lệ nghèo tại Mỹ đã giảm.
Tuy nhiên, chính thành công này lại khiến một số người lo sợ. Họ cho rằng chính phủ bơm quá nhiều tiền, làm thiếu lao động, đẩy giá ô tô và hàng hóa lên cao, nên cần phanh chi tiêu. Lập luận nhìn thấy phần nổi của vấn đề, nhưng bỏ qua phần chìm: giá tăng không chỉ vì cầu mạnh, mà vì phía cung quá mỏng.
Các bang cắt sớm trợ cấp thất nghiệp thời đại dịch không chứng kiến lao động quay lại rõ rệt hơn. Lý do là nhiều phụ huynh, chủ yếu là phụ nữ, phải rời lực lượng lao động khi dịch vụ chăm sóc trẻ em trở nên đắt đỏ và khan hiếm. Trong xây dựng và sản xuất, tình trạng thiếu nhân công còn đến từ làn sóng nghỉ hưu và việc không đào tạo đủ lao động kỹ năng sau khủng hoảng 2008.
Khi chuỗi cung ứng không có bộ giảm xóc
Đại dịch làm lộ ra nền kinh tế không có đủ bộ giảm xóc. Thói quen tiêu dùng chuyển nhanh từ dịch vụ sang hàng hóa; nhu cầu với các sản phẩm chứa chip bán dẫn tăng vọt vì làm việc tại nhà; trong khi nhà máy phải giảm sản xuất vì biện pháp y tế. Kết quả là tắc nghẽn ở gần như mọi loại hàng hóa, từ cảng Los Angeles đến ngành ô tô. Khi hàng không đủ, giá tăng không phải vì người dân “quá giàu”, mà vì nền kinh tế không đáp ứng kịp.
Nhà ở là ví dụ rõ nhất. Sau khủng hoảng 2008, nhu cầu nhà ở phục hồi rất chậm, khiến ngành xây dựng mất lao động lành nghề và không đào tạo đủ thế hệ mới. Khi đại dịch khiến người dân đổ xô mua nhà, vật liệu xây dựng lại thiếu, chuỗi cung ứng đứt đoạn, các nhà phát triển bất động sản bị ám ảnh bởi cú sốc cũ nên không tin nhu cầu mới sẽ bền. Vì thế giá nhà tăng mạnh.
Gốc rễ nằm ở thập niên thắt lưng buộc bụng sau 2008. Gói kích thích thời Barack Obama bị đánh giá là quá nhỏ, lại bị triệt tiêu bởi cắt giảm ngân sách ở cấp bang và các đợt siết chi tiêu năm 2011. Cầu yếu kéo đầu tư tư nhân xuống thấp; hạ tầng không được xây đủ; ngay cả tự động hóa cũng chững lại vì lao động rẻ và sẵn có khiến doanh nghiệp không có động lực đổi mới.
Lạm phát thời khí hậu
Đại dịch không phải cú sốc cuối cùng. Với biến đổi khí hậu, các thế hệ dưới 40 tuổi sẽ sống trong tương lai nhiều lũ lụt, cháy rừng và bão hơn. Mỗi thảm họa có thể làm thay đổi nhanh hành vi của người lao động và người tiêu dùng. Nền kinh tế muốn giữ giá cả ổn định không thể chỉ dựa vào chính sách tiền tệ mà cần năng lực thích ứng thật sự.
Vậy nên, Mỹ có hai lựa chọn. Một là cắt chi tiêu, tăng lãi suất, làm giảm sức mua hộ gia đình và đẩy một phần người lao động ra khỏi việc làm. Cách này có thể giữ giá ổn định trong ngắn hạn, nhưng khiến nền kinh tế yếu hơn và dễ tổn thương hơn trước cú sốc kế tiếp. Hai là đầu tư để phía cung đủ mạnh, đủ linh hoạt và đủ dự phòng để đáp ứng nhu cầu tăng nhanh.
Ba trụ cột để nhốt lạm phát
Trụ cột đầu tiên là chính sách công nghiệp chủ động. Mỹ cần củng cố sản xuất các hàng hóa chiến lược như chip bán dẫn, tránh tập trung quá mức vào một doanh nghiệp hay một khu vực, đồng thời duy trì năng lực dự phòng cho khủng hoảng. Chính phủ có thể dùng sức mua và vốn dài hạn để hỗ trợ các ngành thiết yếu nhưng biên lợi nhuận thấp, đồng thời dự báo thiếu hụt và duy trì kho dự trữ vật liệu chiến lược.
Trụ cột thứ hai là điện lưới. Năng lượng tái tạo đang rẻ đi nhanh, nhưng Mỹ chưa có hệ thống truyền tải đủ mạnh để đưa điện gió và điện mặt trời từ nơi dư thừa đến nơi thiếu hụt. Siêu lưới điện cao áp có thể giúp khử carbon, giảm chi phí năng lượng cho doanh nghiệp và hộ gia đình, qua đó tạo sức ép giảm giá.
Trụ cột thứ ba là dịch vụ chăm sóc và y tế. Muốn lực lượng lao động không co lại, Mỹ phải đầu tư vào chăm sóc trẻ em và người cao tuổi. Nếu phụ nữ và nhiều người trưởng thành phải lựa chọn giữa đi làm và chăm sóc gia đình, phía cung lao động sẽ yếu đi. Ngoài ra, cho phép Medicare đàm phán giá thuốc có thể giảm một trong những nguồn tăng giá lớn nhất suốt ba thập niên qua.
Bài học sau chiến tranh
Lịch sử cho thấy chi tiêu đúng ưu tiên xã hội có thể giúp nền kinh tế ổn định sau cú sốc lớn. Sau Thế chiến II, Mỹ cũng trải qua đợt lạm phát ngắn và mạnh. Một phần phương thuốc là chi tiêu để tạo việc làm và giáo dục cho cựu binh, qua đó ổn định cầu và thúc đẩy các ngành dân sự phát triển. Ngược lại, sau Thế chiến I, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ vì sợ lạm phát tăng lãi suất, gây suy thoái ngắn, làm suy yếu quyền mặc cả của người lao động và neo lương xuống thấp. Thập niên 1920, tăng trưởng tiền lương yếu khiến hộ gia đình vay nợ quá mức, góp phần dẫn tới Đại suy thoái.
Bài học cho hiện tại rất rõ: không phải mọi lạm phát đều có thể chữa bằng cách làm nền kinh tế nghèo đi. Sau cú sốc giống thời chiến, nước Mỹ không chỉ cần phục hồi. Nước Mỹ cần cải cách.
Muốn hạ nhiệt lạm phát bền vững, Mỹ không thể chỉ bóp cầu. Phải xây thêm nhà, đào tạo thêm lao động, mở rộng điện lưới, tăng năng lực sản xuất chip, chăm sóc trẻ em và người già tốt hơn, đồng thời chuẩn bị cho cú sốc khí hậu tiếp theo. Lạm phát không chỉ là câu chuyện quá nhiều tiền đuổi theo quá ít hàng hóa mà còn là lời cảnh báo nền kinh tế không được đầu tư đủ lâu. Muốn “nhốt con quỷ lạm phát trở lại chiếc chai”, phải làm chiếc chai lớn hơn và chắc hơn.
shared via noemamag,



