Vì sao sản xuất ở các quốc gia giàu trì trệ
26/08/26
Trước Covid-19, khoản kích thích và cứu trợ 5.300 tỷ USD của chính phủ liên bang Mỹ đưa nền kinh tế trở lại quỹ đạo, nhưng không có nguồn vốn mạnh. Tình trạng này không chỉ tồn tại ở Mỹ: từ thập niên 1980 đến thập niên 2010, trong nhóm bảy nền kinh tế phát triển lớn (Mỹ, Nhật Bản, Đức, Pháp, Anh, Ý và Canada) tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực bình quân đầu người đã giảm hơn một nửa. Các nhà kinh tế gọi đây là trì trệ dài hạn: thời kỳ tăng trưởng chậm kéo dài về năng suất, đầu tư, sản lượng và thu nhập bình quân đầu người.
Sau Đại Khủng hoảng thập niên 1930, cuộc tranh luận này xuất hiện. John Maynard Keynes và Michał Kalecki nhận định nguyên nhân nằm ở thiếu cầu: bất bình đẳng khiến người giàu tiết kiệm và tiêu dùng ít hơn, còn doanh nghiệp không đầu tư khi sức mua yếu. Joseph Schumpeter lại nhìn từ phía cung: đột phá năng suất chỉ đến khi doanh nhân kỳ vọng lợi nhuận độc quyền đủ lớn giúp huy động tín dụng cho các khoản đầu tư cách mạng vào vận tải, năng lượng và sản xuất.
Từ nhà máy Ford đến kinh tế nhượng quyền
Theo tinh thần của Thorstein Veblen, không chỉ kinh tế vĩ mô, cấu trúc ngành quyết định tăng trưởng. Veblen khẳng định doanh nghiệp tìm kiếm độc quyền không nhất thiết để đổi mới lớn, mà để khóa cạnh tranh và thu lợi nhuận dễ dàng. Đầu thế kỷ 20, ông nhận thấy mô hình công nghiệp kiểu Ford: nền kinh tế hai tầng, gồm các tập đoàn độc quyền hoặc thiểu quyền hạn chế sản lượng để nâng giá, và nhóm doanh nghiệp nhỏ với lợi nhuận thấp hơn không sở hữu quyền lực ấy.
Từ sau Thế chiến II đến thập niên 1980, các doanh nghiệp lớn kiếm lợi nhuận nhờ sản xuất tích hợp dọc và vốn vật chất chuyên dụng như máy móc đắt tiền, khó chuyển mục đích. Quy mô lớn giúp họ đạt năng suất cao, tạo rào cản gia nhập và duy trì lợi nhuận. Tuy nhiên mô hình này cũng cần nhà máy chạy gần hết công suất, nhiều lao động trực tiếp và chuỗi cung ứng ổn định. Vì công nhân có thể đình công làm gián đoạn sản xuất, doanh nghiệp cuối cùng phải chia sẻ một phần lợi nhuận độc quyền với lao động có công đoàn. Kết quả vĩ mô rất tích cực: thu nhập phân phối đều hơn, tiêu dùng mạnh hơn, đầu tư liên tục và chính trị doanh nghiệp hướng tới ổn định kinh tế.
Trong thập niên 1960–1970, mô hình này gặp thách thức. Công nhân trẻ, người da đen, phụ nữ và các nhóm thiểu số phản kháng trật tự lao động cũ. Doanh nghiệp đáp lại bằng việc tách rời sản xuất, chuyển ra nước ngoài, thuê ngoài, phân tán địa lý và giảm trách nhiệm pháp lý với người lao động, trong khi vẫn giữ quyền kiểm soát đối với tài sản trí tuệ.
Kỷ nguyên lợi nhuận từ tài sản trí tuệ
Giai đoạn hiện nay là kỷ nguyên nhượng quyền, với đặc trưng lợi nhuận tập trung vào các công ty giàu quyền sở hữu trí tuệ như bằng sáng chế, bản quyền, nhãn hiệu, thương hiệu, nhưng có ít lao động, ít nhu cầu đầu tư thêm và dễ tránh thuế. Các công ty này có thể đặt quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản trí tuệ ở các quốc gia có thuế thấp hoặc không thuế, gây suy yếu cơ sở thu ngân sách.
Cấu trúc mới có ba tầng: Doanh nghiệp ít lao động, nhiều vốn tri thức và lợi nhuận cao nhờ tài sản trí tuệ, doanh nghiệp thâm dụng vốn vật chất với lợi nhuận vừa phải và doanh nghiệp thâm dụng lao động, lợi nhuận thấp, cung cấp dịch vụ hoặc hàng hóa ít khác biệt. Công nghệ là trung tâm dễ thấy nhất, nhưng mô hình này thậm chí lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác. Hilton Worldwide sở hữu khoảng 5.900 nhãn hiệu đăng ký và 16 thương hiệu khách sạn được phân tầng kỹ, nhưng chỉ sở hữu khoảng 1% các tòa nhà mang thương hiệu đó.
Hệ quả, lợi nhuận dồn lên trên, còn lao động dồn xuống dưới. Giai đoạn 1961–1965, trong số các nhà tuyển dụng lớn nhất nước Mỹ, có 61 doanh nghiệp nằm trong nhóm 100 công ty có lợi nhuận tích lũy cao nhất, chiếm 41,1% tổng lợi nhuận và 38% tổng việc làm. Giai đoạn 2013–2017, chỉ còn 53 doanh nghiệp như vậy, chiếm 32,6% lợi nhuận nhưng chỉ cung cấp 27,6% việc làm.
Lợi nhuận cao, đầu tư thấp
Vấn đề lớn là lợi nhuận thường chảy vào những công ty ít có động cơ đầu tư vào năng lực sản xuất mới. Trong giai đoạn 1950–1980, 100 công ty niêm yết Mỹ có lợi nhuận tích lũy cao nhất nắm gần 45% lợi nhuận; giai đoạn 1992–2017, con số vẫn gần tương đương 44%. Tuy nhiên nơi lợi nhuận tích tụ đã đổi khác: công nghệ, dược sinh học và tài chính thay thế viễn thông, dầu khí và chế tạo. Các công ty giàu tài sản trí tuệ không cần nhiều vốn vật chất mở rộng sản xuất; chi phí biên của bản sao phần mềm, hệ điều hành hay phim gần như bằng không.
Trong khi đó, ở thập niên 2000, các doanh nghiệp thâm dụng vốn vật chất ngại vay đầu tư mới vì thị trường các nước phát triển chỉ tăng khoảng 1%/năm (xấp xỉ tốc độ tăng dân số). Sau năm 2016, ngay cả các ngành từng năng động như điện thoại thông minh cũng suy giảm rõ rệt. Do có thể đạt tăng năng suất 2–3%/năm nhờ cải tiến quy trình, ác nhà sản xuất lớn có rất ít động lực tăng công suất.
Dù vậy, không thể chỉ đổ lỗi cho tài chính hóa. Trong những thập niên gần đây, các ngành giàu tài sản trí tuệ thu nhiều lợi nhuận tích lũy hơn tài chính, nhưng vẫn đầu tư dưới mức trung bình. Vì vậy, chính sách cần nhắm vào các ngành đặc quyền do nhà nước tạo ra hoặc dung túng: siết chống độc quyền, quản lý chặt phái sinh và mở đường cho thương lượng tập thể, nhằm kéo thu nhập khỏi lợi nhuận tập trung và trả lại cho tiền lương của số đông.
shared via phenomenal world,



