Những “Kế hoạch Marshall xanh” và bài toán phát triển của Nam bán cầu
15/06/26
Tháng 9/2024, tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ở New York, Luiz Inácio Lula da Silva, Tổng thống Brazil miêu tả hệ thống tài chính quốc tế hiện nay như “Kế hoạch Marshall đảo ngược”, nơi các nước nghèo nhất lại đang tài trợ cho các nước giàu nhất. Ông nhấn mạnh rằng các quốc gia châu Phi phải vay với lãi suất cao gấp tám lần Đức và gấp bốn lần Mỹ. Nhận định này phản ánh nghịch lý lớn của kinh tế toàn cầu. Những nước cần vốn nhất để phát triển, thích ứng khí hậu và chuyển đổi năng lượng phải đối mặt chi phí tài chính cao nhất.
Lula không phải người duy nhất nêu vấn đề. Larry Summers và N.K. Singh, hai gương mặt tiêu biểu của giới kỹ trị trung dung, cũng cho rằng khẩu hiệu đưa tài chính phát triển cho Nam bán cầu từ “hàng tỷ lên hàng nghìn tỷ USD” đã thất bại. Thay vì dòng vốn lớn chảy vào các nước nghèo, tài chính toàn cầu vận động theo chiều ngược lại, “triệu USD đi vào, tỷ USD đi ra”. Cùng lúc, làn sóng thắt lưng buộc bụng trên toàn cầu khiến các mục tiêu khí hậu và phát triển càng trở nên xa vời.
Trong bối cảnh đó, những lời kêu gọi về “Kế hoạch Marshall xanh” từ cả Trung Quốc và Mỹ cần được nhìn nhận thận trọng. Đằng sau ngôn ngữ hợp tác khí hậu là cuộc cạnh tranh địa kinh tế mới, nơi công nghệ xanh, tài chính, thị trường và chuỗi cung ứng trở thành công cụ mặc cả giữa các cường quốc và các nước đang phát triển.
Hai đề xuất từ Bắc Kinh và Washington
Ở Trung Quốc, khái niệm “Kế hoạch Marshall xanh” được học giả kinh tế Hoàng Ích Bình, giáo sư Đại học Bắc Kinh và cựu quan chức Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, nhắc đến trong đề xuất về “Kế hoạch phát triển xanh cho Nam bán cầu”. Theo ông, Trung Quốc có thể giúp các nước đang phát triển chuyển đổi xanh, khuyến khích họ mua sản phẩm Trung Quốc, tiếp nhận công nghệ Trung Quốc và thu hút doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư ra nước ngoài.
Đề xuất này gắn với quá trình quốc tế hóa đồng nhân dân tệ. Nếu Trung Quốc cung cấp tài chính cho các nước nhập khẩu công nghệ sạch bằng đồng tiền riêng, Bắc Kinh vừa mở rộng thị trường cho hàng hóa xanh, vừa giảm phụ thuộc vào đồng USD. Trong lúc Mỹ và châu Âu dựng hàng rào thuế quan với hàng hóa xanh Trung Quốc, các thị trường đang phát triển trở thành hướng đi ngày càng quan trọng cho năng lượng mặt trời, pin, xe điện và các thiết bị chuyển đổi năng lượng của Trung Quốc.
Ở Mỹ, Brian Deese, cựu giám đốc Hội đồng Kinh tế Quốc gia dưới thời Tổng thống Joe Biden, kêu gọi “Kế hoạch Marshall năng lượng sạch”. Tầm nhìn của Deese là đưa chính sách công nghiệp kiểu Biden ra bên ngoài nước Mỹ, mở rộng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp Mỹ để đáp ứng nhu cầu toàn cầu, đồng thời gia tăng ảnh hưởng của Washington. Ông đặt niềm tin vào lợi thế kỹ thuật của Mỹ trong các lĩnh vực như thu giữ và lưu trữ carbon, hydro, hạt nhân, địa nhiệt và các công nghệ năng lượng mới.
Cả hai đề xuất đều có điểm chung là dùng chính sách công nghiệp trong nước làm nền tảng cho ảnh hưởng quốc tế. Trung Quốc muốn tìm đầu ra cho năng lực sản xuất xanh khổng lồ. Mỹ muốn phục hồi công nghiệp nội địa và cạnh tranh với Trung Quốc bằng các chuỗi cung ứng sạch do mình dẫn dắt. Công thức chung là củng cố sức mạnh quốc gia thông qua tái thiết công nghiệp xanh.
Khoảng cách giữa lời hứa và nhu cầu thật
Vấn đề là các nước đang phát triển không chỉ muốn trở thành thị trường tiêu thụ công nghệ xanh của Mỹ hoặc Trung Quốc. Họ muốn xây dựng năng lực sản xuất trong nước, tạo việc làm kỹ năng cao, tăng thu ngân sách, nâng năng suất và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị xanh. Nếu chỉ nhập khẩu tấm pin mặt trời, xe điện hay hệ thống lưu trữ điện, Nam bán cầu sẽ tiếp tục ở vị trí phụ thuộc, hoặc là thị trường đầu ra, hoặc là nơi cung cấp tài nguyên thô.
Đây là điểm yếu lớn trong cả hai “Kế hoạch Marshall xanh”. Đề xuất từ Washington bị chỉ trích vì không hiểu đầy đủ nhu cầu của đối tác Nam bán cầu và đánh giá quá cao năng lực sản xuất công nghệ sạch của Mỹ. Một số công nghệ được Mỹ nhấn mạnh, như thu giữ carbon và hydro, đắt đỏ, phức tạp và chưa chắc phù hợp với nhu cầu năng lượng cấp thiết của đa số dân số thế giới. Trong khi đó, điều nhiều nước nghèo cần trước mắt là năng lượng sạch giá rẻ, hạ tầng điện ổn định, chuyển giao công nghệ và nguồn vốn dài hạn với chi phí thấp.
Trung Quốc có lợi thế rõ hơn trong sản xuất năng lượng tái tạo. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, từ nay đến năm 2030, Trung Quốc dự kiến chiếm gần 60% tổng công suất năng lượng tái tạo được lắp đặt trên toàn cầu. Nhưng Bắc Kinh cũng chưa chắc sẵn sàng giúp các nước đối tác leo lên các nấc cao hơn trong chuỗi giá trị. Ở nhiều nơi, các dự án hợp tác sản xuất xe điện hoặc công nghệ sạch chủ yếu mới dừng ở khâu lắp ráp từ bộ linh kiện nhập khẩu, trong khi phần có giá trị cao vẫn nằm tại Trung Quốc.
Tài chính vẫn là điểm nghẽn lớn nhất
Điểm thiếu sót rõ nhất trong các đề xuất của cả Mỹ lẫn Trung Quốc là tài chính đủ lớn, đủ rẻ và đủ dài hạn. Mỹ bị giới hạn bởi chính trị trong nước, đặc biệt là Quốc hội. Trung Quốc, sau nhiều năm cho vay mạnh qua Sáng kiến Vành đai và Con đường, cũng đã giảm tốc vì tăng trưởng trong nước chậm lại, rủi ro nợ xấu tăng và áp lực tài chính tại các địa phương.
Báo cáo của Văn phòng Trách nhiệm Chính phủ Mỹ cho thấy từ năm 2013–2021, Trung Quốc chi cho tài chính hạ tầng ở nước ngoài nhiều gấp gần chín lần Mỹ, với 679 tỷ USD so với 76 tỷ USD. Tuy nhiên, dòng vốn Trung Quốc cho hạ tầng, đường sắt, nhà máy điện và đường bộ đã giảm mạnh từ sau năm 2018. Năm 2023, tại châu Phi, cho vay của Trung Quốc tăng trở lại, nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với giai đoạn đầu của Vành đai và Con đường.
Trường hợp Angola cho thấy rõ thế tiến thoái lưỡng nan của các nước đang phát triển. Angola từng là nước nhận nhiều vốn Trung Quốc nhất trong làn sóng cho vay BRI, nhưng nền kinh tế vẫn phụ thuộc nặng vào dầu mỏ. Nước này vừa duy trì quan hệ với Trung Quốc, vừa tăng cường hợp tác với Mỹ. Nếu châu Âu cung cấp tài chính cho hệ thống điện mặt trời hộ gia đình, Angola sẽ mua thêm tấm pin từ châu Âu. Nếu Trung Quốc không cung cấp vốn và hỗ trợ để phát triển công nghiệp trong nước, Bắc Kinh cũng có thể mất lợi thế.
Với Mỹ, trọng tâm tại Angola là hành lang đường sắt Lobito, dự án có thể vận chuyển khoáng sản từ vành đai đồng Zambia – Congo ra cảng Lobito. Với Trung Quốc, tuyến Tazara nối Zambia với cảng Dar es Salaam là trục chiến lược khác cho khoáng sản chuyển đổi năng lượng. Cả hai cường quốc đều nói về phát triển, nhưng đều hành động theo lợi ích kinh tế và chính trị trước mắt.
Ảo ảnh Marshall và câu hỏi phát triển xanh
Các “Kế hoạch Marshall xanh” vì vậy vẫn giống ảo ảnh hơn là cam kết thực chất. Để kết hợp giảm phát thải với phát triển, Nam bán cầu cần nhiều hơn các khoản vay nhỏ, các dự án lắp ráp hoặc vai trò thị trường tiêu thụ. Họ cần tài chính rẻ, tái cơ cấu nợ, chuyển giao công nghệ, sản xuất nội địa và quyền tham gia vào phần có giá trị cao của chuỗi cung ứng xanh.
Cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung có thể mở ra cơ hội mặc cả cho các nước đang phát triển. Nhưng nếu các cường quốc chỉ muốn bán hàng, kiểm soát chuỗi cung ứng và bảo vệ công nghiệp trong nước, Nam bán cầu sẽ tiếp tục kẹt giữa hai lựa chọn hạn chế, mua công nghệ sạch từ bên ngoài hoặc bán tài nguyên thô cho quá trình chuyển đổi xanh của người khác. Trật tự khí hậu công bằng đòi hỏi nhiều tinh thần quốc tế hơn mức mà các liên minh chính trị hiện nay ở cả Washington lẫn Bắc Kinh sẵn sàng chi trả.
shared via phenomenalworld,


