Các nước nghèo có thể mất thêm một thập niên vì nợ
14/09/26
Cách nhìn phổ biến cho rằng khủng hoảng nợ công chủ yếu bắt nguồn từ nền tảng tài khóa yếu: chính phủ chi quá nhiều, thu quá ít, quản lý kém và cuối cùng mất khả năng trả nợ. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng nợ tại các nước ngoại vi của kinh tế toàn cầu cho thấy sự thật khác. Khả năng thanh toán của quốc gia không chỉ phụ thuộc vào kỷ luật ngân sách. Nó còn phụ thuộc vào quyền lực tiền tệ.
Ở trung tâm hệ thống, các nước phát hành đồng tiền mạnh như USD có thể vay rẻ hơn, tiếp cận thanh khoản dễ hơn và nhận được hậu thuẫn trực tiếp từ ngân hàng trung ương. Ở ngoại vi, thanh khoản lại mang tính chu kỳ. Khi kinh tế toàn cầu thuận lợi, nhà đầu tư sẵn sàng mua tài sản bằng tiền tệ của các nước đang phát triển để hưởng lãi suất cao hơn. Tuy nhiên, khi khủng hoảng đến, họ rút tiền rất nhanh, bán tài sản rủi ro và chạy về USD, trái phiếu chính phủ Mỹ hoặc các đồng tiền lõi khác.
Vì vậy, các nước nghèo dễ bị mắc kẹt trong vòng xoáy mất thanh khoản, mất giá tiền tệ và khủng hoảng nợ. Đây không chỉ là lỗi của từng quốc gia, mà là sản phẩm của trật tự tiền tệ quốc tế bất bình đẳng.
Đại dịch và cú chạy về USD
Covid-19 làm rõ sự bất đối xứng ấy. Các nước giàu tung ra kích thích tài khóa và tiền tệ quy mô chưa từng có, giữ lãi suất thấp và chống đỡ nền kinh tế. Trong khi đó, nhiều nước đang phát triển và mới nổi chứng kiến dòng vốn tháo chạy, thương mại sụt giảm, đầu tư trực tiếp nước ngoài đi xuống, giá hàng hóa và du lịch lao dốc.
Từ tháng 1–4/2020, dòng vốn tư nhân gần như ngừng chảy vào các nền kinh tế này, trong khi dòng vốn rút ra lên tới 96 tỷ USD, mức cao nhất lịch sử. Doanh thu xuất khẩu giảm khiến ngày càng nhiều nguồn thu phải dành để trả nợ bằng ngoại tệ mạnh.
Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển, nhu cầu tài trợ của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi, không tính Trung Quốc, có thể lên tới 2.500 tỷ USD trong năm đó và 3.000 tỷ USD trong hai năm tiếp theo. Tuy nhiên, phần lớn các nước này không có đường dây hoán đổi tiền tệ với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ. Chỉ một số nước như Brazil, Mexico, Hàn Quốc được tiếp cận. Phần còn lại phải dựa vào Quỹ Tiền tệ Quốc tế, viện trợ phát triển hoặc các khoản vay kèm điều kiện.
Các giải pháp tạm thời quá nhỏ
Phương án lẽ ra có thể giúp nhanh là phát hành thêm quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Năm 2009, công cụ này từng được dùng để bơm thanh khoản quốc tế sau khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong đại dịch, nhiều ước tính cho rằng cần ít nhất 500 tỷ USD quyền rút vốn đặc biệt mới để giúp các nước ngoại vi có thêm dự trữ, chi cho y tế và chống suy thoái.
Nhưng đề xuất này bị chặn lại, phần lớn vì Mỹ có quyền phủ quyết thực tế trong Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Khi ấy, chính quyền Trump phản đối vì lo ngại các đối thủ địa chính trị được tiếp cận nguồn lực không điều kiện.
Trong khi cải cách tiền tệ bị tắc, các sáng kiến giảm nợ cũng rất hạn chế. Quỹ Tiền tệ Quốc tế xóa nghĩa vụ trả nợ cho một số nước nghèo thông qua quỹ cứu trợ thảm họa. G20 lập Sáng kiến hoãn trả nợ, cho phép 76 nước nghèo tạm dừng trả nợ song phương chính thức trong tám tháng. Dù vậy, các chương trình này chỉ hoãn dịch vụ nợ, không giảm gốc nợ. Chúng cũng không buộc chủ nợ tư nhân tham gia.
Các cơ quan xếp hạng tín nhiệm còn cảnh báo rằng nếu nước vay yêu cầu chủ nợ tư nhân cùng hoãn nợ, họ có thể bị hạ xếp hạng. Vì thế, tiền đáng lẽ dùng để phục hồi kinh tế và bảo vệ người dân có nguy cơ tiếp tục chảy sang các trái chủ tư nhân.
Bóng ma “thập niên mất mát”
Bối cảnh này gợi lại khủng hoảng nợ thập niên 1980. Khi Chủ tịch Fed Paul Volcker nâng lãi suất USD mạnh từ năm 1979–1981, nhiều nước Mỹ Latinh và châu Phi rơi vào khủng hoảng nợ. Sau đó, Quỹ Tiền tệ Quốc tế dẫn dắt các chương trình thắt lưng buộc bụng, điều chỉnh cơ cấu và tư nhân hóa tài sản công. Với Mỹ Latinh, những năm sau đó được gọi là “thập niên mất mát”.
Lần này, tình hình còn phức tạp hơn. Chủ nợ không chỉ là các ngân hàng thương mại phương Tây hay Câu lạc bộ Paris, còn gồm Trung Quốc, các quỹ trái phiếu, quỹ phòng hộ và nhiều nhóm nhà đầu tư khác. Vì thế, việc phối hợp tái cơ cấu nợ khó hơn nhiều. Một số trái chủ thiểu số có thể kiện ra tòa tại New York hoặc London để chặn thỏa thuận.
Vấn đề căn bản là thế giới chưa có cơ chế phá sản quốc gia giống như luật phá sản dành cho doanh nghiệp hay cá nhân. Tái cơ cấu nợ chủ quyền hiện nay vẫn dựa vào dàn xếp rời rạc giữa nước vay và từng nhóm chủ nợ. Cách làm này thường chậm, thiếu minh bạch, giảm nợ không đủ và đặt gánh nặng quá lớn lên dân chúng tại nước đi vay.
Nếu không có cơ chế phá sản chủ quyền quốc tế, nhiều nước nghèo có thể bước vào thêm một thập niên trì trệ. Khủng hoảng nợ không chỉ là vấn đề tài chính. Đây là vấn đề công lý toàn cầu. Ai phải trả giá khi hệ thống tiền tệ quốc tế được thiết kế để bảo vệ đồng tiền mạnh, chủ nợ mạnh và các trung tâm tài chính lớn?
shared via phenomenalworld,


