Giỏ hàng

Luật khai mỏ 1872 và cái giá công chúng phải trả

Hoạt động khai thác mỏ tại Comstock. Ảnh: Thư viện Bancroft

Đạo luật cũ vẫn định hình miền Tây nước Mỹ
 
Năm 2019, nghị sĩ Dân chủ Alan Lowenthal gọi Luật Khai mỏ 1872 là “một trong những đạo luật lỗi thời nhất vẫn còn hiệu lực”. Nhận xét ấy nhắm vào đạo luật cho phép tư nhân hóa đất khoáng sản liên bang tại miền Tây nước Mỹ, khung pháp lý ra đời từ thế kỷ 19 nhưng vẫn tiếp tục chi phối ngành khai thác mỏ đá cứng đến nay.
 
Trong nhiều thập kỷ, đạo luật này liên tục bị chất vấn tại Quốc hội. Hai phê phán chính được lặp lại. Thứ nhất, khác với nhiều ngành khai thác khác, doanh nghiệp khai mỏ đá cứng có thể mua đất khoáng sản liên bang với giá chỉ 5 USD/mẫu Anh, tức khoảng 0,4 ha, và không phải trả tiền thuê mỏ cho tài nguyên lấy đi.
 
Hệ quả là nguồn lợi công khổng lồ được chuyển sang tay tư nhân. Năm 1994, Bộ Nội vụ Mỹ bán khoảng 789 ha đất tại Nevada cho Barrick Resources với giá chưa tới 10.000 USD. Khu đất này chứa 30 triệu ounce vàng, khi ấy được định giá 380 USD/ounce. Chỉ cần áp mức thuê mỏ nhỏ như các ngành khai thác khác, ngân sách công đã có thể thu về hàng trăm triệu USD.
 
Phê phán thứ hai là môi trường. Vì doanh nghiệp không phải trả tiền thuê mỏ, chính phủ thường gánh phần lớn hậu quả sinh thái của khai thác mỏ. Hàng trăm nghìn mỏ bỏ hoang ở miền Tây tiếp tục rò rỉ nước thải độc hại vào sông suối trong nhiều thập kỷ. Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, khai thác mỏ đã làm ô nhiễm khoảng 40% lưu vực nước ở miền Tây, với chi phí làm sạch có thể lên tới 54 tỷ USD.
 
Không chỉ là chuyện “miền Tây hoang dã”
 
Những người ủng hộ cải cách thường kể lịch sử đạo luật này như di sản của thời “miền Tây hoang dã”, khi cựu binh Nội chiến đi tìm vận may với cuốc, xẻng, lừa và giấc mơ đổi đời. Mục tiêu được nói đến là khuyến khích dân cư đến định cư miền Tây.
 
Cách kể ấy chưa đủ. Đúng là định cư miền Tây là mục tiêu quan trọng, nhưng Luật Khai mỏ 1872 cũng được thiết kế để xoa dịu và khuyến khích giới tư bản công nghiệp đầu tư vào khai khoáng. Đạo luật này không vận hành trái với mục đích ban đầu. Nó tiếp tục làm đúng điều nó từng làm: tối đa hóa lợi nhuận cho chủ sở hữu vốn, đặt gánh nặng lên người lao động, các cộng đồng bản địa và công chúng.
 
Từ thời lập quốc, chính phủ Mỹ từng coi vàng, bạc, chì và nhiều kim loại khác là tài nguyên quá quan trọng để giao hoàn toàn cho tư nhân. Nhà nước thử nghiệm nhiều hình thức kiểm soát, cho thuê và thu tiền bản quyền. Tuy nhiên, sau năm 1848, khi Mỹ sáp nhập vùng lãnh thổ rộng lớn từ Mexico, khai khoáng trên đất công bùng nổ. Người đào mỏ ở California rồi khắp miền Tây tự đặt ra quy tắc địa phương để xác lập quyền khai thác, phần nào nhằm bảo vệ người khai mỏ nhỏ trước nhà đầu tư lớn.
 
Khi khai mỏ trở thành công nghiệp lớn
 
Đến thập niên 1860 và 1870, khai mỏ chuyển nhanh sang mô hình công nghiệp. Ở Nevada, các mỏ bạc lớn đòi hỏi vốn lớn, kỹ thuật sâu và lao động làm thuê. Hình ảnh người đào mỏ tự do dần nhường chỗ cho tập đoàn khai mỏ, nhà đầu tư từ xa và công nhân mỏ nhận lương.
 
Xung đột cũng tăng. Sau khi bị cắt lương, công nhân đình công. Các nhà đầu tư tranh chấp quyền sở hữu dưới lòng đất. Những vụ kiện triệu USD nổ ra quanh câu hỏi mỏ bạc Comstock là thân quặng duy nhất hay nhiều mạch song song. Khi tòa án chấp nhận lý thuyết “một mạch”, quyết định này tạo cơ sở pháp lý cho tập trung tài sản vào tay các công ty lớn.
 
Trong bối cảnh đó, Quốc hội từng cân nhắc nhiều phương án khác: thu tiền thuê hoặc bản quyền, khảo sát tài nguyên trước khi bán, đấu giá công khai, hạn chế diện tích cá nhân hay công ty được khai thác. Những phương án này có thể ưu tiên nguồn thu công và hạn chế độc quyền. Nhưng đến cuối cùng, dưới sức ép của khối chính trị miền Tây và các nhân vật như William M. Stewart – thượng nghị sĩ Nevada, Quốc hội chọn hệ thống “khai thác mỏ tự do”.
 
Lao động, đất đai và chuyển đổi công bằng
 
Hệ thống ấy cho phép tư nhân hóa đất khoáng sản với giám sát rất thấp, giá rẻ và không giới hạn số bằng khoán một bên có thể mua. Nó giúp người khai mỏ nhỏ phát hiện mỏ mới, nhưng cũng mở đường cho doanh nghiệp lớn gom tài sản và lợi nhuận.
 
Khi tài sản tư nhân được củng cố, công nhân mỏ trở thành lực lượng lao động làm thuê phụ thuộc vào chủ mỏ. Các nghiệp đoàn mỏ sau đó giành được nhiều thắng lợi về lương và điều kiện làm việc. Tuy vậy, câu hỏi sâu hơn về sở hữu đất, tài nguyên, quyền bản địa và thiệt hại môi trường dần bị tách khỏi đấu tranh nơi làm việc.
 
Nếu muốn thoát khỏi mô hình khai thác gây ô nhiễm, tái sản xuất bất bình đẳng thuộc địa và để lại chi phí khổng lồ cho thế hệ sau, cần giảm sự phụ thuộc của người lao động vào ngành khai thác mỏ. Không thiếu việc cần làm, từ dọn dẹp mỏ bỏ hoang đến phục hồi nguồn nước. Vấn đề là liệu quyền lực công có đủ mạnh để ưu tiên làm sạch thay vì tiếp tục trao tài nguyên công cho lợi nhuận tư nhân hay không.
 
shared via phenomenalworld,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên