Giỏ hàng

IMF trước sức ép cải cách trật tự tài chính toàn cầu

 
Silicon Valley Bank sụp đổ, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ lập tức mở rộng bảng cân đối thêm 300 tỷ USD, bảo vệ tiền gửi vượt mức bảo hiểm và tái kích hoạt các đường hoán đổi USD quốc tế. Ở Thụy Sĩ, nhà nước dựng cơ chế thanh khoản để UBS tiếp quản Credit Suisse. Tuy nhiên, với nhiều nước thu nhập thấp và trung bình, sự linh hoạt hiếm khi xuất hiện. Họ gặp IMF chậm hơn, đắt hơn và khắt khe hơn.
 
Hai chuẩn mực trong khủng hoảng
 
Các ngân hàng ở Bắc Đại Tây Dương được cứu bằng tinh thần “làm mọi điều cần thiết”. Fed cho vay khẩn cấp, nhận trái phiếu Kho bạc Mỹ theo mệnh giá, cao hơn giá thị trường, làm tài sản bảo đảm. Thụy Sĩ sửa luật để định hình thương vụ UBS - Credit Suisse. Ngược lại, các nước đang phát triển phải chờ lâu hơn. Thời gian trung bình từ thỏa thuận cấp chuyên viên với IMF đến phê duyệt của ban điều hành tăng từ 55 lên 187 ngày. Chi phí cũng cao. Trong khi đường hoán đổi USD của Fed thường chỉ cao hơn lãi suất chuẩn OIS 25 điểm cơ bản, khoản vay IMF qua Cơ sở Quỹ Mở rộng có thể cộng thêm 200-300 điểm cơ bản trên lãi suất Quyền rút vốn đặc biệt, tức SDR. Các phụ phí được IMF giải thích nhằm hạn chế việc vay quá lớn và quá lâu. Nhưng chúng đem lại khoảng 1,76 tỷ USD, gần một nửa thu nhập hằng năm của IMF, trở thành nguồn thu lớn nhất của định chế cho vay cuối cùng đa phương.
 
Cú sốc USD và khoản nợ mới
 
Khủng hoảng hiện nay bắt nguồn từ cú sốc toàn cầu sau cuộc chiến Ukraine. Giá năng lượng tăng, lạm phát leo thang, Fed nâng lãi suất mạnh, đồng USD lên mức cao nhất hai thập niên. Khi USD tăng, khoảng 90 nền kinh tế đang phát triển chứng kiến đồng tiền mất giá trong năm trước.
 
Với các nước thu nhập thấp, mất giá tiền tệ kéo theo dòng vốn tháo chạy và lạm phát nhập khẩu. Nhiều ngân hàng trung ương buộc phải tăng lãi suất, dù tăng trưởng yếu. Năm 2022, vốn rút khỏi các quỹ trái phiếu thị trường mới nổi ở mức chưa từng có. Một số nước phải bán dự trữ ngoại hối để đỡ đồng tiền nội địa. Tổng dự trữ ngoại hối của các nền kinh tế đang phát triển giảm 379 tỷ USD. Trong bối cảnh này, nợ nước ngoài công và được chính phủ bảo lãnh của các nước thu nhập thấp và trung bình lên khoảng 9.000 tỷ USD. Phần lớn khoản vay ngắn hạn bằng ngoại tệ từ chủ nợ tư nhân. Khi lãi suất tăng, chi phí đảo nợ phình ra. Hơn 1/4 nền kinh tế mới nổi gần như bị khóa khỏi thị trường trái phiếu quốc tế, với chênh lệch lãi suất cao hơn trái phiếu Kho bạc Mỹ từ 9 điểm phần trăm trở lên.
 
Vấn đề là thanh khoản, không chỉ vỡ nợ
 
Nhiều nước không hẳn mất khả năng trả nợ dài hạn. Vấn đề trước mắt là thiếu thanh khoản, giống ngân hàng bị rút vốn. Họ vẫn phải trả nợ, nhập khẩu năng lượng, lương thực, thuốc men và ổn định tỷ giá, nhưng không thể vay mới với chi phí hợp lý. Khi tìm đến IMF, các nước phải trải qua đánh giá tính bền vững nợ, thương lượng với chủ nợ song phương, tổ chức đa phương và trái chủ tư nhân. Đổi lại, họ thường phải cắt chi tiêu công. IMF vẫn dựa nhiều vào thắt lưng buộc bụng, dù chính các nghiên cứu của Quỹ cho thấy củng cố tài khóa trung bình không làm giảm tỷ lệ nợ/GDP. Olivier Blanchard, cựu kinh tế trưởng IMF từng chỉ ra, Quỹ đánh giá quá thấp tác hại của thắt lưng buộc bụng đối với tăng trưởng.
 
Điều này khiến IMF ngày càng kém hấp dẫn. Năm 2021, dự trữ ngoại hối toàn cầu khoảng 14.000 tỷ USD, lớn hơn nhiều so với IMF, hoán đổi song phương và các cơ chế khu vực cộng lại. Trung Quốc, các ngân hàng phát triển mới và định chế như Ngân hàng Phát triển Mới của BRICS cũng tạo thêm lựa chọn cho các nước ngại điều kiện IMF.
 
SDR và lối thoát khả thi
 
Cải cách cấp bách nhất là mở rộng sử dụng SDR. SDR không phải tiền tệ, nhưng là quyền đòi hỏi với các đồng tiền mạnh như USD và EUR. Năm 2021, IMF phát hành lượng SDR tương đương 650 tỷ USD, lớn nhất lịch sử, nhưng chỉ 1% đến các nước thu nhập thấp vì phân bổ dựa trên hạn ngạch IMF. Nếu phát hành thường xuyên và tái phân bổ tốt hơn, SDR có thể giúp các nước giảm chi phí vay, ổn định tỷ giá và tài trợ chuyển đổi xanh. Các nước giàu hiện giữ phần lớn SDR chưa dùng. Khoảng 200 tỷ USD SDR ở châu Âu và hơn 150 tỷ USD ở Mỹ có thể chuyển lại cho các nước cần vốn. Các cơ chế hiện tại như Quỹ Tăng trưởng và Giảm nghèo hay Quỹ Bền vững và Khả năng chống chịu vẫn là khoản vay, không phải viện trợ, và quy mô còn quá nhỏ. Trong khi đó, chuyển đổi khí hậu ở các nước đang phát triển cần khoảng 4.000 tỷ USD/năm.
 
IMF cần bảng cân đối lớn hơn
 
IMF táo bạo hơn cần nguồn lực lớn hơn. Hạn ngạch không chỉ là vốn của IMF, mà còn quyết định quyền biểu quyết, phần SDR, mức vay tối đa và chi phí vay. Trung Quốc và Ấn Độ hiện có quyền biểu quyết thấp hơn nhiều so với quy mô kinh tế và dân số. Mỹ nắm 16,5% quyền biểu quyết, trong khi các quyết định lớn cần 85% ủng hộ, nghĩa là Washington có quyền phủ quyết thực tế. Thỏa thuận ngầm rằng lãnh đạo IMF thuộc về châu Âu, Ngân hàng Thế giới thuộc về Mỹ ngày càng lỗi thời. Tinh thần ban đầu của Bretton Woods không chỉ là kỷ luật nước đi vay. John Maynard Keynes từng cho rằng cả nước thặng dư cán cân thanh toán cũng phải chịu trách nhiệm điều chỉnh mất cân đối toàn cầu. Ngày nay, trách nhiệm này phải quay lại với các nền kinh tế giàu, nơi thu hút vốn tháo chạy, dung dưỡng thiên đường thuế và nắm quyền định hình IMF.
 
Nếu không cải cách, IMF có nguy cơ mất vai trò trung tâm của lưới an toàn tài chính toàn cầu. Trong thế giới đầy nợ, khí hậu cực đoan và dòng vốn bất ổn, cho vay chậm, đắt và khắc khổ không còn là công thức cứu trợ mà có thể trở thành lý do khiến các nước khủng hoảng tìm lối thoát ở nơi khác.
 
shared via phenomenalworld,

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên