Giỏ hàng

Thép và bài toán quyền lực công nghiệp trong thời chuyển đổi xanh

Nhân viên của Tập đoàn Thép Baowu Trung Quốc giám sát việc bốc xếp thép tấm tại Thượng Hải. Ảnh: Luo Jisheng

Tháng 4/2026, Quốc hội Anh được triệu tập khẩn cấp, lần đầu tiên theo hình thức này kể từ Chiến tranh Falklands năm 1982, để ngăn nguy cơ đóng cửa hai lò cao tại nhà máy thép Scunthorpe. Đây là những lò cao cuối cùng còn lại của Anh sau khi Port Talbot ngừng hoạt động năm 2024. Nếu Scunthorpe bị đóng, Anh sẽ trở thành quốc gia đầu tiên trong G7, và cả G20, chấm dứt sản xuất thép thô tích hợp bằng lò cao. Cuối cùng, nhà máy được cứu bằng cuộc tiếp quản quản lý của chính phủ, nhưng vụ việc phơi bày thực tế lớn hơn, ngành thép phương Tây đang khủng hoảng.
 
Khủng hoảng này không chỉ xảy ra tại Anh. Nippon Steel của Nhật đã mua US Steel với giá gần 15 tỷ USD, kèm cam kết đầu tư mới 11 tỷ USD đến năm 2028. Tại EU, ThyssenKrupp của Đức công bố kế hoạch cắt giảm nhân sự lớn. Ở Ý, chính phủ tiếp tục vật lộn để duy trì nhà máy Taranto, cơ sở thép lớn nhất châu Âu.
 
Từng là câu lạc bộ của các nền công nghiệp phát triển, G7 hiện chỉ còn chiếm 13,1% sản lượng thép toàn cầu. Nếu không tính Nhật Bản, tỷ lệ này còn 8,7%. Hai mươi lăm năm trước, G7 chiếm tới 40%. Sự thu hẹp ấy cho thấy thay đổi căn bản trong bản đồ công nghiệp thế giới.
 
Thép vẫn là nền móng của kinh tế hiện đại
 
Ý tưởng các nền kinh tế phát triển có thể vượt qua nhu cầu sản xuất thép trong nước là sai lầm. Trong nhiều thập niên qua, ở cấp độ toàn cầu, mức sử dụng thép vẫn tăng. Tiêu thụ thép thô bình quân đầu người toàn cầu trong 5 năm gần đây đạt khoảng 224 kg, tăng mạnh so với mức khoảng 150 kg vào giữa thập niên 1980.
 
Những nước giàu vẫn tiêu thụ rất nhiều thép. Hàn Quốc đạt hơn 991 kg/người, Trung Quốc hơn 652 kg, Nhật Bản hơn 435 kg, Đức gần 369 kg, Canada hơn 354 kg và Mỹ hơn 266 kg. Nói cách khác, dù nhiều nền kinh tế phương Tây giảm sản xuất, họ vẫn phụ thuộc vào thép để vận hành hạ tầng, công nghiệp và tiêu dùng.
 
Thép là đầu vào không thể thay thế của nền kinh tế công nghiệp hiện đại. Khoảng 52% thép toàn cầu được dùng cho hạ tầng thiết yếu như cầu, đường sắt, đường ống, nhà ở, hệ thống năng lượng sạch và mạng lưới kỹ thuật số. Ngành vận tải, gồm ô tô, tàu hỏa và tàu biển, chiếm thêm 17% nhu cầu thép. Khoảng 16% thép dùng để sản xuất máy móc, những thiết bị tạo ra phần còn lại của nền kinh tế.
 
Quan trọng hơn, thép cũng là vật liệu cốt lõi của chuyển đổi xanh. Turbine gió, lưới điện, đường sắt, xe điện, hạ tầng truyền tải và nhiều thiết bị năng lượng sạch đều cần thép. Đến năm 2035, theo kịch bản phát thải ròng bằng 0 của Cơ quan Năng lượng Quốc tế, nhu cầu thép cho sản xuất công nghệ sạch có thể tăng gấp ba lần.
 
Phương Tây đi xuống, Trung Quốc đi lên
 
Từ năm 1865, thép hiện đại bắt đầu với quy trình Martin-Siemens. Nhờ nguồn than và năng lực luyện sắt sẵn có, Anh nhanh chóng trở thành nước dẫn đầu ngành thép toàn cầu trong thế kỷ 19. Sau đó, năm 1890, Mỹ vượt Anh và trở thành cường quốc thép lớn nhất thế giới trong phần lớn thế kỷ 20. Thành lập năm 1901 bởi J.P. Morgan, Charles Schwab và Andrew Carnegie, U.S. Steel từng là tập đoàn lớn nhất thế giới, doanh nghiệp đầu tiên đạt giá trị vốn hóa 1 tỷ USD.
 
Ở châu Âu, các tập đoàn tích hợp như Thyssen và Krupp là xương sống của sức mạnh công nghiệp Đức. Sau Thế chiến II, than và thép là nền tảng ban đầu của hội nhập châu Âu, thông qua Cộng đồng Than Thép châu Âu năm 1951.
 
Nhưng từ thập niên 1960–1970, vị thế Mỹ – châu Âu bắt đầu suy giảm. Nhật Bản vươn lên nhờ chiến lược công nghiệp do Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp, MITI, điều phối. Sau đó, cú sốc dầu mỏ năm 1973 và 1979 làm nhu cầu thép tại phương Tây chững lại, chi phí năng lượng tăng, đầu tư công nghiệp suy giảm và các nhà sản xuất lao vào cạnh tranh trong thị trường trì trệ.
 
Tại châu Âu và Bắc Mỹ, ngành thép bước vào giai đoạn tái cấu trúc đau đớn, trợ cấp, quốc hữu hóa, hạn ngạch bảo hộ, sáp nhập và cắt giảm lao động. Nhưng các biện pháp này không giải quyết được căn nguyên, phi công nghiệp hóa, giảm đầu tư hạ tầng công và chính sách tài khóa bảo thủ trong thập niên 1980–1990. Ngày nay, châu Âu và Mỹ cộng lại chỉ chiếm khoảng 10% sản lượng thép thô toàn cầu.
 
Trong khi đó, Trung Quốc trở thành siêu cường thép. Giai đoạn 1999–2008, sản lượng thép thô của Trung Quốc tăng gấp bốn lần và vượt mốc 1 tỷ tấn năm 2020. Hiện Trung Quốc chiếm khoảng 53% sản lượng thép toàn cầu. Trong 50 nhà sản xuất thép lớn nhất thế giới, 27 công ty đặt tại Trung Quốc. Baowu, doanh nghiệp nhà nước Trung Quốc, hiện là nhà sản xuất thép lớn nhất thế giới; riêng tập đoàn này sản xuất nhiều thép hơn toàn bộ Liên minh châu Âu cộng lại.
 
Không có ngành thép thuần thị trường
 
Bài học lớn từ lịch sử là gần như chưa từng có ngành thép lớn nào phát triển thành công nhờ thị trường tự do thuần túy. Thép là ngành cực kỳ thâm dụng vốn, cần đầu tư cố định khổng lồ, chu kỳ hoàn vốn dài và nguồn vốn kiên nhẫn. Ngành này cũng tiêu thụ nhiều năng lượng, gồm than, điện và khí tự nhiên. Ở châu Âu, chi phí năng lượng cao khiến các nhà sản xuất chịu bất lợi lớn so với những khu vực có giá năng lượng được nhà nước điều tiết hoặc ưu đãi hơn.
 
Đổi mới trong ngành thép thường là cải tiến quy trình từng bước. Nhưng các bước nhảy lớn, chẳng hạn chuyển sang thép xanh, cần kế hoạch đầu tư dài hạn mà tư nhân khó tự gánh khi biên lợi nhuận mỏng và thị trường biến động.
 
Lịch sử cho thấy nhà nước luôn đóng vai trò then chốt. Mỹ và Đức từng bảo vệ ngành thép bằng thuế quan cao cuối thế kỷ 19. Năm 1901, Nhật Bản dựng nhà máy thép đầu tiên bằng doanh nghiệp nhà nước rồi dùng MITI để điều phối sáp nhập và tạo quy mô cạnh tranh. Năm 1968 POSCO của Hàn Quốc ra đời như công ty nhà nước với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc. Trường hợp Trung Quốc là ví dụ rõ nhất hiện nay, với các tập đoàn thép nhà nước được điều phối thông qua sáp nhập chiến lược, cạnh tranh có quản lý, vốn vay ưu đãi và mua sắm công.
 
Thép xanh cần nhà nước mạnh hơn
 
Nếu thép là vật liệu của chuyển đổi xanh, bản thân ngành thép cũng phải được khử carbon. Đây là một trong những ngành khó giảm phát thải nhất, chiếm khoảng 10% khí nhà kính toàn cầu. Phần lớn phát thải đến từ quy trình lò cao – lò thổi oxy, dùng than cốc để tách oxy khỏi quặng sắt. Trung bình, một nhà máy truyền thống thải hơn 2 tấn CO₂/tấn thép.
 
Lò hồ quang điện dùng thép phế liệu có phát thải thấp hơn, nhưng vẫn không hoàn toàn xanh nếu điện đến từ nhiên liệu hóa thạch. Về dài hạn, khử carbon triệt để thép sơ cấp cần hydro xanh, được tạo ra bằng điện tái tạo thông qua điện phân nước. Công nghệ sắt hoàn nguyên trực tiếp, DRI, có thể dùng hydro xanh thay than cốc, giúp sản xuất thép với phát thải rất thấp.
 
Nhưng hydro xanh đòi hỏi lượng điện khổng lồ. Nhà máy DRI dùng hydro xanh có thể cần hơn 4.000 kWh điện/tấn thép, gần 30 lần mức điện của quy trình lò cao truyền thống. Vì vậy, thép xanh không chỉ cần công nghệ, mà cần điện tái tạo dồi dào, hạ tầng hydro, vốn lớn và quy hoạch công nghiệp.
 
Các công cụ thị trường như hệ thống mua bán phát thải của EU hay cơ chế điều chỉnh carbon biên giới khó đủ sức tạo chuyển đổi. Khi điều kiện thị trường xấu đi, các hãng thép châu Âu lập tức trì hoãn kế hoạch hydro. ArcelorMittal đã hoãn đầu tư vào nhà máy DRI dùng hydro dù từng được hứa hỗ trợ 3 tỷ euro từ các chính phủ châu Âu.
 
Dự án Hybrit tại Thụy Điển cho thấy con đường khác. Đây là một trong những dự án thép xanh tiên tiến nhất thế giới, do các thực thể có kiểm soát nhà nước dẫn dắt: SSAB, LKAB và Vattenfall. Dự án còn nhận hỗ trợ tài chính lớn từ nhà nước Thụy Điển và EU.
 
Thép vì vậy không thể chỉ được nhìn như ngành công nghiệp cũ kỹ. Đây là nền tảng của hạ tầng hiện đại, sản xuất chiến lược và chuyển đổi xanh. Nếu Mỹ và châu Âu muốn khôi phục năng lực công nghiệp, bảo đảm an ninh kinh tế và giảm phát thải, họ phải nhìn lại thép như ngành chiến lược cần quy hoạch dài hạn, vốn công và có thể cả sở hữu công.
 
shared via phenomenalworld,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên