Con đường gập ghềnh tới quản trị AI toàn cầu
15/06/26
![]() |
| Ảnh: Christina S. Zhu |
Khoảng hai năm rưỡi trước, các nhà nghiên cứu từ Đại học Bắc Kinh, Học viện Trí tuệ Nhân tạo Bắc Kinh và Đại học Cambridge công bố bài viết đáng chú ý về hợp tác xuyên văn hóa trong đạo đức AI. Bài viết không gây tiếng vang lớn ngoài giới học thuật, nhưng đưa ra lập luận quan trọng: đạt được thỏa thuận toàn cầu về quản trị AI cấp thiết và khả thi.
Những tranh luận về quản trị AI toàn cầu thường nhấn mạnh căng thẳng Mỹ – Trung, hoặc giả định truyền thống triết học “Đông” và “Tây” đối lập căn bản. Bài nghiên cứu này nhìn khác đi. Theo các tác giả, nhiều rào cản có thể nông hơn vẻ ngoài. Họ cho biết “có lý do để lạc quan”, vì hiểu lầm giữa các nền văn hóa và khu vực có thể phá hoại lòng tin nhiều hơn các bất đồng thật sự.
Chỉ vài năm trước, nói về “cuộc chạy đua vũ trang AI” giữa Mỹ và Trung Quốc nghe có vẻ hiếu chiến. Nay câu chuyện ấy được thể chế hóa trong chính sách của cả hai nước. Điều này diễn ra khi ngày càng nhiều nhà nghiên cứu, doanh nhân, nhà hoạch định chính sách và công chúng nhận ra AI – nhóm công nghệ phát triển nhanh, khó đoán và đa dụng cần được điều tiết. Và nếu muốn hiệu quả, việc điều tiết ấy phải mang phạm vi toàn cầu.
Nhiều cơ quan công, tổ chức xã hội dân sự và nhóm ngành đề xuất các khung quản trị AI. Một số có ảnh hưởng, nhưng chưa khung nào tạo ra dàn xếp toàn cầu có tính thực thi. Sự nghi kỵ giữa các cường quốc có thể phá hỏng đồng thuận.
Không chỉ là bàn cờ Mỹ – Trung
Đưa Mỹ và Trung Quốc ngồi cùng bàn chỉ như rào cản lớn nhất, không phải rào cản duy nhất. Châu Âu có thể đóng vai trò quyết định. Dù là đồng minh ý thức hệ của Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) khác Washington rõ rệt về mục tiêu quản trị AI: Mỹ ưu tiên đổi mới, còn EU đặt nặng giảm thiểu rủi ro.
Dàn xếp toàn cầu nghiêm túc phải tính đến những khu vực thường bị gạt ra ngoài thảo luận, như châu Phi, Caribbean và Mỹ Latinh. Rất có thể Nam bán cầu sẽ gánh phần lớn mặt trái của kỷ nguyên AI: từ các công việc gắn nhãn dữ liệu bị bóc lột để huấn luyện mô hình ngôn ngữ lớn, đến các thực hành khai thác dữ liệu mang tính vắt kiệt.
Bộ nguyên tắc AI toàn cầu có lợi cho tất cả, vì tác động của công nghệ nền tảng này sẽ vượt qua biên giới. Nếu thiếu phối hợp, thế giới có nguy cơ rơi vào internet phân mảnh, nơi các quốc gia xây hệ thống công nghệ không tương thích, thậm chí thù địch nhau.
Nguy cơ trước mắt rất rõ. Doanh nghiệp có thể tung ứng dụng mới nhằm giành lợi thế nhưng bỏ qua hệ quả đạo đức và an toàn, kể cả trong lĩnh vực rủi ro cao như hạt nhân, thần kinh học và công nghệ sinh học. Cũng có nguy cơ chạy đua vũ trang theo nghĩa đen, khi ứng dụng quân sự được biện minh bằng logic: nếu họ làm, ta phải làm trước.
Trên bề mặt, thiện chí tìm điểm chung không nhỏ. Tài liệu chính sách của cả Mỹ và Trung Quốc đều nói tới hợp tác toàn cầu. Tháng 11/2022, chính phủ Trung Quốc công bố văn kiện kêu gọi “thỏa thuận quốc tế” về đạo đức và quản trị AI, đồng thời tôn trọng nguyên tắc và thực tiễn của các nước. Kế hoạch AI của chính quyền Biden cũng coi “hợp tác quốc tế” là trụ cột.
Cơ hội hợp tác xuất hiện ở Liên Hợp Quốc và G7. Tổng thư ký António Guterres kêu gọi thành lập cơ quan giám sát toàn cầu, tương tự Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân.
Đưa Mỹ và Trung Quốc ngồi cùng bàn chỉ như rào cản lớn nhất, không phải rào cản duy nhất. Châu Âu có thể đóng vai trò quyết định. Dù là đồng minh ý thức hệ của Mỹ, Liên minh châu Âu (EU) khác Washington rõ rệt về mục tiêu quản trị AI: Mỹ ưu tiên đổi mới, còn EU đặt nặng giảm thiểu rủi ro.
Dàn xếp toàn cầu nghiêm túc phải tính đến những khu vực thường bị gạt ra ngoài thảo luận, như châu Phi, Caribbean và Mỹ Latinh. Rất có thể Nam bán cầu sẽ gánh phần lớn mặt trái của kỷ nguyên AI: từ các công việc gắn nhãn dữ liệu bị bóc lột để huấn luyện mô hình ngôn ngữ lớn, đến các thực hành khai thác dữ liệu mang tính vắt kiệt.
Bộ nguyên tắc AI toàn cầu có lợi cho tất cả, vì tác động của công nghệ nền tảng này sẽ vượt qua biên giới. Nếu thiếu phối hợp, thế giới có nguy cơ rơi vào internet phân mảnh, nơi các quốc gia xây hệ thống công nghệ không tương thích, thậm chí thù địch nhau.
Nguy cơ trước mắt rất rõ. Doanh nghiệp có thể tung ứng dụng mới nhằm giành lợi thế nhưng bỏ qua hệ quả đạo đức và an toàn, kể cả trong lĩnh vực rủi ro cao như hạt nhân, thần kinh học và công nghệ sinh học. Cũng có nguy cơ chạy đua vũ trang theo nghĩa đen, khi ứng dụng quân sự được biện minh bằng logic: nếu họ làm, ta phải làm trước.
Trên bề mặt, thiện chí tìm điểm chung không nhỏ. Tài liệu chính sách của cả Mỹ và Trung Quốc đều nói tới hợp tác toàn cầu. Tháng 11/2022, chính phủ Trung Quốc công bố văn kiện kêu gọi “thỏa thuận quốc tế” về đạo đức và quản trị AI, đồng thời tôn trọng nguyên tắc và thực tiễn của các nước. Kế hoạch AI của chính quyền Biden cũng coi “hợp tác quốc tế” là trụ cột.
Cơ hội hợp tác xuất hiện ở Liên Hợp Quốc và G7. Tổng thư ký António Guterres kêu gọi thành lập cơ quan giám sát toàn cầu, tương tự Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế trong lĩnh vực hạt nhân.
Khi chính trị bế tắc, học thuật còn cửa đối thoại
Quan hệ Mỹ – Trung vẫn căng thẳng, từ Ukraine đến thương mại công nghệ và vật liệu tiên tiến. Chính trị gia Mỹ thường miêu tả tiến bộ công nghệ Trung Quốc như đe dọa an ninh quốc gia. Tháng 6/2023, trong cuộc gặp Ngoại trưởng Antony Blinken, nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc Vương Nghị nói “nhận thức sai lầm” của Washington về Trung Quốc là gốc rễ căng thẳng, đồng thời yêu cầu Mỹ ngừng “đàn áp” phát triển công nghệ Trung Quốc.
Chính vì vậy, lập luận của Seán ÓhÉigeartaigh, Jess Whittlestone, Yang Liu, Yi Zeng và Zhe Liu đáng chú ý: những vấn đề này có thể vượt qua, và dàn xếp gần hạn về luật AI quốc tế rất khả thi. Trong thời địa chính trị căng thẳng, giới học thuật thường có thể đi tới nơi chính trị gia không thể. ÓhÉigeartaigh nhắc tới Hội nghị Pugwash thời Chiến tranh Lạnh, nơi các nhà khoa học Mỹ và Liên Xô vẫn trao đổi về rủi ro toàn cầu, dù lòng tin giữa hai chính phủ rất thấp.
Có bằng chứng học giả AI của Mỹ và Trung Quốc vẫn muốn hợp tác. Năm 2022, theo báo cáo AI Index của Stanford, các nhà nghiên cứu AI từ hai nước cùng đứng tên trong nhiều bài báo hơn bất kỳ cặp quốc gia nào, dù hợp tác giảm khi căng thẳng tăng. Những nỗ lực này diễn ra trong bối cảnh nhà nghiên cứu gốc Hoa tại Mỹ chịu áp lực: năm 2018, chính quyền Tổng thống Trump từng bàn nghiêm túc về việc cấm toàn bộ visa sinh viên Trung Quốc; năm 2021, một khảo sát gần 2.000 nhà khoa học cho thấy hơn 42% người gốc Hoa làm việc tại Mỹ cảm thấy bị chính phủ Mỹ phân biệt chủng tộc.
Dù công nghệ giữ vị trí khác nhau trong xã hội Trung Quốc và Mỹ như Trung Quốc gắn với kiểm duyệt từ sớm, còn Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do công nghệ California, điều đó không có nghĩa hai bên không có giá trị chung.
Quyền riêng tư dữ liệu là ví dụ. Nhiều người phương Tây nhận định Trung Quốc cho phép doanh nghiệp tự do thu thập dữ liệu phục vụ giám sát. Nhưng Liên minh Công nghiệp Trí tuệ Nhân tạo Trung Quốc, tổ chức “bán chính thức” gồm các công ty công nghệ và viện nghiên cứu lớn, cho biết AI phải tuân thủ nguyên tắc hợp pháp, chính đáng và cần thiết khi thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; đồng thời phải bảo đảm an ninh dữ liệu và phòng rủi ro rò rỉ. Năm 2019, chính phủ Trung Quốc được cho là cấm hơn 100 ứng dụng vì vi phạm quyền riêng tư dữ liệu.
Trong khi đó, chính sách dữ liệu của Mỹ lại phân mảnh. Mỹ không có luật liên bang toàn diện về quyền riêng tư cho mọi loại dữ liệu, và phần lớn dữ liệu doanh nghiệp thu thập về dân thường không được điều tiết. Chỉ số ít bang có luật bảo vệ dữ liệu toàn diện.
Quan hệ Mỹ – Trung vẫn căng thẳng, từ Ukraine đến thương mại công nghệ và vật liệu tiên tiến. Chính trị gia Mỹ thường miêu tả tiến bộ công nghệ Trung Quốc như đe dọa an ninh quốc gia. Tháng 6/2023, trong cuộc gặp Ngoại trưởng Antony Blinken, nhà ngoại giao hàng đầu Trung Quốc Vương Nghị nói “nhận thức sai lầm” của Washington về Trung Quốc là gốc rễ căng thẳng, đồng thời yêu cầu Mỹ ngừng “đàn áp” phát triển công nghệ Trung Quốc.
Chính vì vậy, lập luận của Seán ÓhÉigeartaigh, Jess Whittlestone, Yang Liu, Yi Zeng và Zhe Liu đáng chú ý: những vấn đề này có thể vượt qua, và dàn xếp gần hạn về luật AI quốc tế rất khả thi. Trong thời địa chính trị căng thẳng, giới học thuật thường có thể đi tới nơi chính trị gia không thể. ÓhÉigeartaigh nhắc tới Hội nghị Pugwash thời Chiến tranh Lạnh, nơi các nhà khoa học Mỹ và Liên Xô vẫn trao đổi về rủi ro toàn cầu, dù lòng tin giữa hai chính phủ rất thấp.
Có bằng chứng học giả AI của Mỹ và Trung Quốc vẫn muốn hợp tác. Năm 2022, theo báo cáo AI Index của Stanford, các nhà nghiên cứu AI từ hai nước cùng đứng tên trong nhiều bài báo hơn bất kỳ cặp quốc gia nào, dù hợp tác giảm khi căng thẳng tăng. Những nỗ lực này diễn ra trong bối cảnh nhà nghiên cứu gốc Hoa tại Mỹ chịu áp lực: năm 2018, chính quyền Tổng thống Trump từng bàn nghiêm túc về việc cấm toàn bộ visa sinh viên Trung Quốc; năm 2021, một khảo sát gần 2.000 nhà khoa học cho thấy hơn 42% người gốc Hoa làm việc tại Mỹ cảm thấy bị chính phủ Mỹ phân biệt chủng tộc.
Dù công nghệ giữ vị trí khác nhau trong xã hội Trung Quốc và Mỹ như Trung Quốc gắn với kiểm duyệt từ sớm, còn Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự do công nghệ California, điều đó không có nghĩa hai bên không có giá trị chung.
Quyền riêng tư dữ liệu là ví dụ. Nhiều người phương Tây nhận định Trung Quốc cho phép doanh nghiệp tự do thu thập dữ liệu phục vụ giám sát. Nhưng Liên minh Công nghiệp Trí tuệ Nhân tạo Trung Quốc, tổ chức “bán chính thức” gồm các công ty công nghệ và viện nghiên cứu lớn, cho biết AI phải tuân thủ nguyên tắc hợp pháp, chính đáng và cần thiết khi thu thập, sử dụng thông tin cá nhân; đồng thời phải bảo đảm an ninh dữ liệu và phòng rủi ro rò rỉ. Năm 2019, chính phủ Trung Quốc được cho là cấm hơn 100 ứng dụng vì vi phạm quyền riêng tư dữ liệu.
Trong khi đó, chính sách dữ liệu của Mỹ lại phân mảnh. Mỹ không có luật liên bang toàn diện về quyền riêng tư cho mọi loại dữ liệu, và phần lớn dữ liệu doanh nghiệp thu thập về dân thường không được điều tiết. Chỉ số ít bang có luật bảo vệ dữ liệu toàn diện.
Những giá trị có thể gặp nhau
Lý do khiến quản trị AI toàn cầu vẫn khả thi là các khung đạo đức AI thường xoay quanh những khái niệm chung: phẩm giá con người, quyền riêng tư, khả năng giải thích, công bằng. Đây là các chủ đề Mỹ, châu Âu và Trung Quốc đều có thể chia sẻ, dù xuất phát từ truyền thống khác nhau.
Liên minh Công nghiệp Trí tuệ Nhân tạo Trung Quốc cho biết phát triển AI phải bảo đảm “công bằng và chính nghĩa”, tránh đẩy người yếu thế vào vị trí bất lợi hơn. Dự thảo AI Bill of Rights của Nhà Trắng cũng yêu cầu người tạo và triển khai AI bảo vệ cá nhân, cộng đồng khỏi phân biệt thuật toán, đồng thời thiết kế hệ thống công bằng hơn.
Điều này không có nghĩa bất đồng triết học có thể bị xóa bằng vài câu chữ, nhưng cho thấy các bên có thể đồng thuận ở những tuyên bố cụ thể, ngay cả khi khác nhau ở tầng nguyên tắc.
Sarah Bosscha, nhà nghiên cứu so sánh luật AI châu Âu và Trung Quốc, nhận xét khác biệt lớn nhất của EU là thiếu khái niệm tương đương giá trị Nho giáo về “hài hòa”, nghĩa vụ đạo đức của cá nhân đối với sự thịnh vượng của cộng đồng. Trong truyền thống Nho giáo, con người trước hết là thành viên gia đình và đơn vị xã hội, không chỉ là cá nhân độc lập. Điều này có thể va chạm với sự tối thượng của cá nhân ở châu Âu, và đặc biệt ở Mỹ.
Nhưng Joseph Chan tại Đại học Hong Kong lập luận các giá trị này không loại trừ nhau. Nho giáo Trung Quốc vẫn có thể ủng hộ một số điểm nhân quyền độc lập với bối cảnh. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền cũng có yếu tố cộng đồng: con người phải đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ ở Điều 1 và có nghĩa vụ với cộng đồng ở Điều 29.
Sự chồng lấn này cũng xuất hiện trong chính sách. Năm 2019, một văn kiện EU nhấn mạnh quan hệ cộng đồng và có mục riêng về không phân biệt đối xử với thiểu số. Bosscha cho rằng EU nên gọi tên “hài hòa” trong các quy định. Trong khi đó, Năm 2019, Nguyên tắc của AI Bắc Kinh dùng ngôn ngữ gần với luật nhân quyền, tuyên bố quyền riêng tư, phẩm giá, tự do và quyền con người phải được tôn trọng đầy đủ. Dĩ nhiên, việc Trung Quốc dùng AI và công nghệ giám sát với các nhóm thiểu số cho thấy cam kết ấy còn xa mới được thực thi đầy đủ.
Lý do khiến quản trị AI toàn cầu vẫn khả thi là các khung đạo đức AI thường xoay quanh những khái niệm chung: phẩm giá con người, quyền riêng tư, khả năng giải thích, công bằng. Đây là các chủ đề Mỹ, châu Âu và Trung Quốc đều có thể chia sẻ, dù xuất phát từ truyền thống khác nhau.
Liên minh Công nghiệp Trí tuệ Nhân tạo Trung Quốc cho biết phát triển AI phải bảo đảm “công bằng và chính nghĩa”, tránh đẩy người yếu thế vào vị trí bất lợi hơn. Dự thảo AI Bill of Rights của Nhà Trắng cũng yêu cầu người tạo và triển khai AI bảo vệ cá nhân, cộng đồng khỏi phân biệt thuật toán, đồng thời thiết kế hệ thống công bằng hơn.
Điều này không có nghĩa bất đồng triết học có thể bị xóa bằng vài câu chữ, nhưng cho thấy các bên có thể đồng thuận ở những tuyên bố cụ thể, ngay cả khi khác nhau ở tầng nguyên tắc.
Sarah Bosscha, nhà nghiên cứu so sánh luật AI châu Âu và Trung Quốc, nhận xét khác biệt lớn nhất của EU là thiếu khái niệm tương đương giá trị Nho giáo về “hài hòa”, nghĩa vụ đạo đức của cá nhân đối với sự thịnh vượng của cộng đồng. Trong truyền thống Nho giáo, con người trước hết là thành viên gia đình và đơn vị xã hội, không chỉ là cá nhân độc lập. Điều này có thể va chạm với sự tối thượng của cá nhân ở châu Âu, và đặc biệt ở Mỹ.
Nhưng Joseph Chan tại Đại học Hong Kong lập luận các giá trị này không loại trừ nhau. Nho giáo Trung Quốc vẫn có thể ủng hộ một số điểm nhân quyền độc lập với bối cảnh. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền cũng có yếu tố cộng đồng: con người phải đối xử với nhau trong tinh thần huynh đệ ở Điều 1 và có nghĩa vụ với cộng đồng ở Điều 29.
Sự chồng lấn này cũng xuất hiện trong chính sách. Năm 2019, một văn kiện EU nhấn mạnh quan hệ cộng đồng và có mục riêng về không phân biệt đối xử với thiểu số. Bosscha cho rằng EU nên gọi tên “hài hòa” trong các quy định. Trong khi đó, Năm 2019, Nguyên tắc của AI Bắc Kinh dùng ngôn ngữ gần với luật nhân quyền, tuyên bố quyền riêng tư, phẩm giá, tự do và quyền con người phải được tôn trọng đầy đủ. Dĩ nhiên, việc Trung Quốc dùng AI và công nghệ giám sát với các nhóm thiểu số cho thấy cam kết ấy còn xa mới được thực thi đầy đủ.
Hiểu lầm, bản dịch và lợi ích của cuộc đua
Nguồn gây mất lòng tin lớn là rào cản ngôn ngữ bất đối xứng. Học giả và nhà báo Trung Quốc thường đọc được tiếng Anh, ngôn ngữ chung của học thuật phương Tây. Ngược lại, rất ít người làm chính sách và nghiên cứu ở phương Tây thành thạo tiếng Trung. Vì vậy, các học giả và chính trị gia nói tiếng Anh phụ thuộc nhiều vào bản dịch khi đọc tài liệu Trung Quốc.
Ngôn ngữ chính trị vốn nhiều sắc thái, đặc biệt ở Trung Quốc. Năm 2017, kế hoạch phát triển AI của Trung Quốc từng được phương Tây diễn giải là tuyên bố tham vọng thống trị công nghệ, phần vì bản dịch nói Bắc Kinh muốn trở thành “trung tâm đổi mới AI hàng đầu thế giới” vào năm 2030. Nhưng theo Fu Ying, cựu nhà ngoại giao Trung Quốc, đây là cách đọc sai. Bà viết Trung Quốc muốn trở thành “trung tâm đổi mới toàn cầu”, không phải trung tâm duy nhất hay độc quyền.
Dù vậy, cách hiểu đáng sợ hơn vẫn lan rộng trong cộng đồng công nghệ Mỹ. Năm 2017, Eric Schmidt, cựu chủ tịch điều hành Alphabet, nói tại một hội nghị, đến năm 2030, Trung Quốc “sẽ thống trị các ngành AI”, và nhấn mạnh: chính phủ Trung Quốc nói vậy.
Theo ÓhÉigeartaigh, cần hỏi ai được lợi khi biến câu chuyện “chạy đua công nghệ Mỹ – Trung” từ khẩu hiệu thành chính sách. Ông nói, nếu có một cuộc đua, đó là giữa các công ty công nghệ Mỹ với nhau. Nỗi lo “phải vượt Trung Quốc” có thể được dùng biện minh cho việc tung sản phẩm nhanh hơn mức nên làm, bỏ qua kiểm tra an toàn và cân nhắc đạo đức.
Vấn đề là AI ngày càng được xem như tài sản quốc gia. Năm 2023, báo cáo AI Now nhận định sự thống trị toàn cầu của Big Tech (Google, Apple, Facebook, Amazon và Microsoft) gắn với ưu thế kinh tế Mỹ. Vì vậy, mọi giới hạn với các công ty này, từ sản phẩm đến dữ liệu, đều dễ bị miêu tả nhường lợi thế cho Trung Quốc, vốn thường bị giả định sai là hoạt động trong khoảng trống pháp lý.
Lập luận này ảnh hưởng mạnh tới tranh luận quyền riêng tư. Năm 2018, sau bê bối Cambridge Analytica, Mark Zuckerberg cảnh báo tại Thượng viện, một số yêu cầu về quyền riêng tư với nhận diện khuôn mặt có thể khiến công ty Mỹ tụt lại sau đối thủ Trung Quốc. Năm ngoái, Phòng Thương mại Mỹ cũng phản đối các hướng dẫn quyền riêng tư trong AI Bill of Rights, cho rằng điều đó rất bất lợi khi Mỹ trong “cuộc đua toàn cầu” về AI.
Nếu đồng nhất nới lỏng quản lý với lợi thế cạnh tranh trước Trung Quốc, triển vọng hợp tác Một sắc lệnh năm 2021 nói câu trả lời trước sức mạnh của độc quyền nước ngoài không phải dung túng độc quyền trong nước, mà phải thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới ở cả doanh nghiệp lớn lẫn nhỏ. Con đường tới bộ nguyên tắc đạo đức AI toàn cầu giữa các đối thủ sẽ gập ghềnh, nhưng hướng đi của cạnh tranh công nghệ không phải điều tất yếu được định sẵn.
Nguồn gây mất lòng tin lớn là rào cản ngôn ngữ bất đối xứng. Học giả và nhà báo Trung Quốc thường đọc được tiếng Anh, ngôn ngữ chung của học thuật phương Tây. Ngược lại, rất ít người làm chính sách và nghiên cứu ở phương Tây thành thạo tiếng Trung. Vì vậy, các học giả và chính trị gia nói tiếng Anh phụ thuộc nhiều vào bản dịch khi đọc tài liệu Trung Quốc.
Ngôn ngữ chính trị vốn nhiều sắc thái, đặc biệt ở Trung Quốc. Năm 2017, kế hoạch phát triển AI của Trung Quốc từng được phương Tây diễn giải là tuyên bố tham vọng thống trị công nghệ, phần vì bản dịch nói Bắc Kinh muốn trở thành “trung tâm đổi mới AI hàng đầu thế giới” vào năm 2030. Nhưng theo Fu Ying, cựu nhà ngoại giao Trung Quốc, đây là cách đọc sai. Bà viết Trung Quốc muốn trở thành “trung tâm đổi mới toàn cầu”, không phải trung tâm duy nhất hay độc quyền.
Dù vậy, cách hiểu đáng sợ hơn vẫn lan rộng trong cộng đồng công nghệ Mỹ. Năm 2017, Eric Schmidt, cựu chủ tịch điều hành Alphabet, nói tại một hội nghị, đến năm 2030, Trung Quốc “sẽ thống trị các ngành AI”, và nhấn mạnh: chính phủ Trung Quốc nói vậy.
Theo ÓhÉigeartaigh, cần hỏi ai được lợi khi biến câu chuyện “chạy đua công nghệ Mỹ – Trung” từ khẩu hiệu thành chính sách. Ông nói, nếu có một cuộc đua, đó là giữa các công ty công nghệ Mỹ với nhau. Nỗi lo “phải vượt Trung Quốc” có thể được dùng biện minh cho việc tung sản phẩm nhanh hơn mức nên làm, bỏ qua kiểm tra an toàn và cân nhắc đạo đức.
Vấn đề là AI ngày càng được xem như tài sản quốc gia. Năm 2023, báo cáo AI Now nhận định sự thống trị toàn cầu của Big Tech (Google, Apple, Facebook, Amazon và Microsoft) gắn với ưu thế kinh tế Mỹ. Vì vậy, mọi giới hạn với các công ty này, từ sản phẩm đến dữ liệu, đều dễ bị miêu tả nhường lợi thế cho Trung Quốc, vốn thường bị giả định sai là hoạt động trong khoảng trống pháp lý.
Lập luận này ảnh hưởng mạnh tới tranh luận quyền riêng tư. Năm 2018, sau bê bối Cambridge Analytica, Mark Zuckerberg cảnh báo tại Thượng viện, một số yêu cầu về quyền riêng tư với nhận diện khuôn mặt có thể khiến công ty Mỹ tụt lại sau đối thủ Trung Quốc. Năm ngoái, Phòng Thương mại Mỹ cũng phản đối các hướng dẫn quyền riêng tư trong AI Bill of Rights, cho rằng điều đó rất bất lợi khi Mỹ trong “cuộc đua toàn cầu” về AI.
Nếu đồng nhất nới lỏng quản lý với lợi thế cạnh tranh trước Trung Quốc, triển vọng hợp tác Một sắc lệnh năm 2021 nói câu trả lời trước sức mạnh của độc quyền nước ngoài không phải dung túng độc quyền trong nước, mà phải thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới ở cả doanh nghiệp lớn lẫn nhỏ. Con đường tới bộ nguyên tắc đạo đức AI toàn cầu giữa các đối thủ sẽ gập ghềnh, nhưng hướng đi của cạnh tranh công nghệ không phải điều tất yếu được định sẵn.
shared via noema,



