Giỏ hàng

Khi hạ tầng viễn thông trở thành vấn đề chủ quyền

Ảnh: Tháp Viễn thông Montjuïc

Đại dịch và sự lệ thuộc vào nền tảng tư nhân
 
Trong những ngày đầu của đại dịch Covid-19, khi giãn cách xã hội trở thành chuẩn mực và luật lệ, đời sống xã hội chuyển mạnh lên mạng. Người ta dùng họp video để gặp gia đình, bạn bè, tham gia lễ tôn giáo, hẹn hò và làm việc. Vốn là công cụ doanh nghiệp, Zoom nhanh chóng trở thành hạ tầng xã hội không chính thức. Càng nhiều người phụ thuộc vào, định giá cổ phiếu của Zoom càng tăng.
 
Vì thế, đại dịch làm lộ rõ câu hỏi lớn. Khi đời sống xã hội, chính trị và kinh tế ngày càng phụ thuộc vào công nghệ truyền thông, liệu các công cụ ấy có thể tiếp tục được tổ chức chủ yếu theo logic sở hữu tư nhân và lợi nhuận hay không?
 
Hai khung pháp lý hiện nay của Mỹ chưa đủ để trả lời câu hỏi này. Một là luật chống độc quyền và điều tiết tiện ích công, vốn tập trung vào quyền lực thị trường. Hai là quy định về hạ tầng trọng yếu, đặt viễn thông trong lăng kính an ninh quốc gia. Cả hai đều có tác dụng nhất định, nhưng đều giữ nguyên mô hình kinh doanh của ngành viễn thông và công nghệ.
 
Giới hạn của chống độc quyền
 
Trong lịch sử Mỹ, học thuyết “cơ sở thiết yếu” ra đời để ngăn các độc quyền tự nhiên khai thác điểm nghẽn hạ tầng. Từ kho chứa nông sản, cầu đường sắt đến hệ điều hành và công cụ tìm kiếm, nhà nước có thể buộc chủ sở hữu hạ tầng quan trọng phải cho đối thủ hoặc người tiêu dùng tiếp cận với điều kiện hợp lý.
 
Với viễn thông, tranh luận này gắn chặt với nguyên tắc trung lập mạng. Theo cách hiểu đơn giản, nhà cung cấp internet không được chặn, bóp băng thông hoặc ưu tiên bất công nội dung hợp pháp. Các quy định trung lập mạng từng được Ủy ban Truyền thông Liên bang Mỹ thúc đẩy, rồi bị đảo ngược dưới thời chính quyền Trump.
 
Khi trung lập mạng bị rút lại, các nhà cung cấp internet có thêm dư địa ưu tiên nội dung, tính phí phân biệt hoặc tích hợp sâu hơn giữa hạ tầng mạng và dịch vụ nội dung. Điều này có thể ảnh hưởng đến các ứng dụng gọi video, nhắn tin, thanh toán hoặc nền tảng cạnh tranh với dịch vụ của chính các tập đoàn viễn thông.
 
Tuy nhiên, ngay cả khi được khôi phục, trung lập mạng cũng chỉ xử lý một phần vấn đề. Nó có thể hạn chế hành vi lạm dụng của doanh nghiệp lớn, nhưng không thay đổi động lực căn bản: dữ liệu, sự chú ý và tương tác của người dùng vẫn bị xem như nguồn tài nguyên để khai thác doanh thu.
 
An ninh quốc gia không đồng nghĩa lợi ích công
 
Khi điều tiết kiểu tiện ích công suy yếu, logic khác nổi lên: an ninh quốc gia. Sau Đạo luật Yêu nước năm 2001, hạ tầng thông tin và truyền thông ngày càng được xem là hạ tầng trọng yếu, liên quan đến an ninh quân sự, kinh tế và y tế công cộng của Mỹ.
 
Dưới thời Tổng thống Trump, cách tiếp cận này tập trung mạnh vào Trung Quốc. Các quy định cấm mua thiết bị từ Huawei, ZTE, mở rộng quyền rà soát đầu tư nước ngoài qua CFIUS, buộc Trung Quốc thoái vốn khỏi ứng dụng Grindr đều được biện minh bằng rủi ro an ninh dữ liệu, chuỗi cung ứng và giám sát.
 
An ninh mạng luôn có chiều kinh tế. Khi Mỹ ngăn công ty Trung Quốc tham gia hạ tầng viễn thông hoặc ứng dụng internet, nước này không chỉ giảm rủi ro an ninh. Mỹ cũng giữ lại các dòng địa tô công nghệ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư trong nước. Vì thế, viễn thông trở thành chiến trường của cả an ninh lẫn lợi nhuận.
 
Vấn đề là khung an ninh quốc gia không làm cho hạ tầng viễn thông dân chủ hơn. Ngược lại, nó có thể kéo quyền kiểm soát về phía hành pháp và các tập đoàn công nghệ nội địa, thay vì trao thêm quyền cho công dân.
 
Viễn thông như hàng hóa công
 
Nếu hạ tầng truyền thông đã trở thành điều kiện cơ bản của đời sống xã hội, nó cần được xem như hàng hóa công, giống trường học, nước sạch, đường sá hay các tiện ích thiết yếu khác.
 
Một số lựa chọn chính sách có thể nằm giữa thị trường tư nhân hoàn toàn và quốc hữu hóa toàn diện. Nhà nước có thể sở hữu một phần các công ty hạ tầng, lập quỹ tài sản công từ thuế đánh vào ngành công nghệ, hoặc xây dựng mạng băng thông rộng quốc gia như Úc. Trong đại dịch, mạng băng thông rộng quốc gia Úc đã có thể tăng công suất miễn phí cho nhà bán lẻ và hỗ trợ hộ thu nhập thấp, học sinh học tại nhà, doanh nghiệp gặp khó khăn.
 
Ở cấp thành phố, phong trào “chủ nghĩa đô thị mới” cũng tìm cách đưa hạ tầng số về dưới kiểm soát công cộng. Barcelona thúc đẩy các nền tảng đô thị thông minh dân chủ hơn. Một số đô thị Đức ưu tiên phần mềm mã nguồn mở cho ứng dụng công dân. Thành phố Bühl cung cấp nền tảng gọi video mã nguồn mở Jitsi để trường học và nhà thờ có thể gặp nhau trong thời gian phong tỏa.
 
Đại dịch cho thấy đời sống xã hội hiện đã phụ thuộc sâu vào hạ tầng viễn thông tư nhân. Nếu chỉ dựa vào chống độc quyền, thị trường vẫn tiếp tục khai thác dữ liệu và sự chú ý. Nếu chỉ dựa vào an ninh quốc gia, quyền lực có thể chuyển từ công ty ngoại sang công ty nội, nhưng người dân vẫn không có nhiều tiếng nói hơn. Vì vậy, câu hỏi cốt lõi là liệu xã hội có đủ ý chí dân chủ để đòi quyền mặc cả, quyền sở hữu và quyền đặt điều kiện đối với những hạ tầng mà đời sống chung đang phụ thuộc hay không.
 
shared via phenomenalworld,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên