Giỏ hàng

Những nước hưởng lợi từ cú sốc dầu mỏ do chiến tranh Iran


Cuộc chiến Mỹ – Israel với Iran đã đẩy thế giới vào một trong những cuộc khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng nhất, khiến sản lượng dầu sụt giảm và giá nhiên liệu tăng vọt. Nhưng cú sốc này không tác động giống nhau với mọi quốc gia. Trong khi nhiều nền kinh tế bị bóp nghẹt bởi chi phí năng lượng cao, một số nước và doanh nghiệp thu được lợi lớn từ giá dầu leo thang, đặc biệt là các nhà sản xuất nằm ngoài Vịnh Ba Tư.
 
Mỹ là ví dụ nổi bật nhất
 
Là nước sản xuất dầu và khí đốt lớn nhất thế giới, Mỹ có khả năng chống đỡ tốt hơn trước cú sốc năng lượng do chính cuộc chiến mà Washington và Israel khởi động. Từ cuối tháng 3, các công ty Mỹ đã xuất khẩu nhiều dầu thô, dầu diesel và các loại nhiên liệu khác hơn bình thường. Lượng xuất khẩu tăng này giúp bù đắp một phần nhỏ nguồn cung mà thế giới mất đi, đồng thời kìm giá không tăng mạnh hơn nữa.
 
Tuy nhiên, lợi ích kinh tế tại Mỹ không phân bổ rộng rãi. Khác nhiều nước sản xuất dầu lớn, Mỹ không có công ty dầu khí quốc doanh. Phần lớn doanh thu tăng thêm chảy vào các tập đoàn dầu khí tư nhân. Cho đến nay, chưa có nhiều dấu hiệu cho thấy họ sẽ dùng khoản tiền này để khoan thêm giếng mới hoặc tuyển thêm lao động. Điều này có nghĩa các bang sản xuất dầu như Texas hay New Mexico khó chứng kiến đợt bùng nổ kinh tế lớn nhờ chiến tranh. Thay vào đó, phần lớn lợi ích nhiều khả năng đến với nhà đầu tư thông qua giá cổ phiếu và cổ tức cao hơn. Chính quyền các bang và chủ đất cho thuê quyền khai thác cũng sẽ thu thêm từ thuế, phí bản quyền và tiền thuê đất.
 
Nga hưởng lợi từ giá cao
 
Nga là bên hưởng lợi lớn, không phải vì bán được nhiều dầu hơn, mà vì giá dầu tăng mạnh trên toàn cầu. Cuộc chiến đã đẩy giá lên cao, trong khi Mỹ tạm thời nới một số lệnh trừng phạt với dầu Nga trong tháng 3. Sự thay đổi chính sách đột ngột này nhiều khả năng giúp Moscow bán dầu với giá tốt hơn so với kịch bản lệnh trừng phạt được duy trì chặt chẽ.
 
Đầu tháng 4, giá dầu Nga bán từ Vịnh Phần Lan có lúc tiến gần 120 USD/thùng, so với mức 41 USD/thùng trước chiến tranh. Đây là khoản hỗ trợ lớn cho nền kinh tế Nga trong bối cảnh Moscow vẫn chịu sức ép từ các biện pháp trừng phạt. Tuy nhiên, lợi ích này không hoàn toàn chắc chắn. Ukraine đã tìm cách hạn chế khả năng Nga tận dụng giá dầu cao bằng cách tấn công vào hạ tầng năng lượng của nước này.
 
Vùng Vịnh chia thành bên thắng và bên thua
 
Trong Vịnh Ba Tư, tình hình phức tạp hơn nhiều. Việc eo biển Hormuz gần như bị đóng, điểm nghẽn nối Vịnh Ba Tư với phần còn lại của thế giới, đã buộc UAE, Iraq và nhiều nước khác phải cắt giảm sản lượng cũng như xuất khẩu. Những quốc gia có thể chuyển hướng dầu qua đường ống tới các cảng nằm ngoài eo biển chịu thiệt hại ít hơn. Những nước không có lựa chọn này bị ảnh hưởng nặng hơn.
 
Ả rập Saudi và UAE là hai nước tương đối vững vàng vì đã đầu tư từ nhiều năm trước vào các tuyến đường ống tránh Hormuz. Đây là khoản “bảo hiểm” đắt đỏ nhưng đang phát huy tác dụng. Dù xuất khẩu của Ả rập Saudi trong chiến tranh giảm hơn 150 triệu thùng so với cùng kỳ năm trước, doanh thu từ lượng dầu bán ra vẫn tăng khoảng 9,2 tỷ USD nhờ giá cao.
 
Đến giữa tháng 4, Iran, nước kiểm soát khả năng tiếp cận eo biển, ban đầu cũng chống chịu khá tốt. Nhưng xuất khẩu của Tehran sau đó lao dốc khi Mỹ áp đặt phong tỏa hải quân nhằm vào các tàu liên quan đến Iran, khiến nền kinh tế nước này thêm căng thẳng.
 
Ngược lại, Iraq, Kuwait và Qatar nằm trong nhóm chịu thiệt hại nặng nhất. Các nước này vừa không kiểm soát được Hormuz, vừa thiếu tuyến xuất khẩu thay thế đủ lớn. Khi eo biển bị gián đoạn, dầu và khí của họ khó ra thị trường, bất chấp giá thế giới đang ở mức rất cao.
 
Hormuz định hình lại bản đồ năng lượng
 
Khủng hoảng lần này cho thấy bài học rõ ràng. Trong thị trường năng lượng, vị trí địa lý và hạ tầng xuất khẩu có thể quan trọng không kém trữ lượng dầu khí. Những nước đã chuẩn bị đường vòng tránh Hormuz đang có lợi thế lớn. Những nước phụ thuộc hoàn toàn vào eo biển này phải chịu rủi ro từ bất kỳ bên nào kiểm soát tuyến hàng hải.
 
Một số nước vùng Vịnh đã bắt đầu tính đến việc xây mới hoặc mở rộng đường ống để tránh Hormuz. Nhưng các dự án như vậy sẽ tốn hàng tỷ USD và mất nhiều năm hoàn thành. Trong tương lai gần, nhiều nhà sản xuất vẫn sẽ bị đặt dưới áp lực của điểm nghẽn này.
 
Nếu eo biển Hormuz tiếp tục đóng, những nước đang hưởng lợi sẽ còn hưởng lợi. Nếu tuyến hàng hải mở lại, tốc độ phục hồi của từng nước sẽ phụ thuộc vào mức độ thiệt hại họ đã chịu trong thời gian gián đoạn. Cuộc chiến dầu mỏ vì thế làm giá năng lượng tăng, phơi bày rõ ai có hạ tầng đủ mạnh để sống sót trong khủng hoảng và ai đang mắc kẹt trong điểm nghẽn địa chính trị.
 
shared via nytimes,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên