Vì sao kinh tế Anh tụt lại sau Mỹ
17/06/26
Cuối thế kỷ 19, thế giới phương Tây chứng kiến nền kinh tế mới nổi tăng trưởng với tốc độ khiến các cường quốc vừa nể phục vừa lo ngại. Nền kinh tế ấy chuyển nhanh từ nông nghiệp sang công nghiệp, tiếp thu rồi cải tiến công nghệ phương Tây, xuất khẩu hàng giá rẻ và thách thức vị thế của bá chủ cũ. Không phải Trung Quốc cuối thế kỷ 20, đó là nước Mỹ thập niên 1890, khi nước Anh vẫn đang là trung tâm kinh tế thế giới.
Trong thập niên ấy, GDP bình quân đầu người của Mỹ vượt Anh, quốc gia từng giữ vị trí cao nhất thế giới trong hơn một thế kỷ. Thực ra, từ năm 1870, ưu thế công nghiệp của Anh đã bị đe dọa và bị Mỹ vượt hẳn vào cuối thế kỷ. Năm 1851, tại Triển lãm Crystal Palace, Anh vẫn tỏ ra áp đảo. Trong 20 năm sau đó, GDP bình quân đầu người của Anh tăng 2,06%/năm, mức nhanh nhất trong lịch sử nước này khi ấy; xuất khẩu tăng gấp ba, với 2/3 là hàng chế tạo.
Nhưng xét tương đối, sự suy yếu đã bắt đầu. Năm 1870, công nghiệp Mỹ có năng suất lao động cao hơn Anh 50%; trước Thế chiến thứ nhất, công nhân chế tạo Mỹ có năng suất gấp đôi công nhân Anh. Giai đoạn 1873–1899, tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Anh giảm xuống chỉ hơn 1%/năm, rồi đến năm 1914, còn 0,84%/năm. Giai đoạn 1871–1914, tăng trưởng năng suất tổng hợp cũng giảm 2/3.
Những lời giải thích cũ
Người đương thời quy trách nhiệm cho sự tự mãn. Năm 1903, Alfred Marshall nhận định việc Anh nhường bớt vị trí cho Mỹ và Đức là khó tránh, nhưng không tất yếu phải mất nhiều đến vậy. Các sử gia kinh tế sau này nêu giả thuyết “thất bại doanh nhân”: giới công nghiệp Anh bám vào lối cũ, chậm áp dụng công nghệ mới như máy kéo sợi vòng, khung cửi tự động hay máy cắt cơ giới trong mỏ than.
Giả thuyết khác đổ lỗi cho vốn. Từ 1870–1914, hằng năm, dòng vốn của Anh chảy ra nước ngoài tương đương khoảng 1/3 đầu tư quốc gia. Năm 1913, 32% tài sản của Anh, tức 4 tỷ bảng thời đó, nằm ở tài sản hải ngoại, chủ yếu là trái phiếu đường sắt và tiện ích tại Mỹ, Argentina và các vùng định cư mới.
Giáo dục cũng bị xem là nguyên nhân. Năm 1870, Mỹ có 390/1.000 trẻ dưới 20 tuổi đi học, Phổ có 365, còn Anh chỉ 120. Theo cách nhìn này, cuối thế kỷ 19, công nghệ cần lao động có giáo dục, trong khi hệ thống Anh vẫn tinh hoa, bảo thủ và thiếu thực dụng.
Vì sao lời giải thích ấy chưa đủ
Từ năm 1970, Deirdre McCloskey phản bác quan điểm Anh suy yếu vì doanh nhân kém hay phân bổ vốn sai. Bà nhận định Anh đã tăng trưởng gần hết mức nguồn lực và công nghệ cho phép. Dù vốn được phân bổ hoàn hảo, giai đoạn 1870–1913, thu nhập cũng chỉ tăng thêm 7,3%, tức 0,21%/năm.
Việc Anh chậm dùng máy kéo sợi vòng không hẳn bảo thủ. Lancashire có nguồn thợ vận hành máy mule rẻ và lành nghề, nên việc tiếp tục dùng công nghệ cũ là hợp lý theo chi phí lúc đó. Đến năm 1913, chỉ 25% cọc sợi Anh chuyển sang máy vòng, so với 90% ở Mỹ, nhưng thợ mule ở Lancashire vẫn năng suất hơn 10% so với thợ máy vòng New England.
Đồng thời, Anh không hẳn đầu tư ra nước ngoài theo cách phi lý. Lợi suất điều chỉnh rủi ro ở nước ngoài được tính là 5,7%/năm, cao hơn 4,6% trong nước. Về giáo dục, khoảng cách cũng đang thu hẹp đúng lúc khoảng cách kinh tế nới rộng: mù chữ nam giới ở Anh giảm từ 30% năm 1860 xuống 1% năm 1914; tỷ lệ giáo dục tiểu học dưới 20 tuổi tăng lên 373/1.000, vượt Đức. Anh còn có hệ thống học việc 5–7 năm rất mạnh, phù hợp với công nghiệp thời đó.
Mỹ có lợi thế Anh không thể sao chép
Nguyên nhân sâu hơn là Mỹ có điều kiện sản xuất Anh không thể bắt chước. Cách mạng công nghiệp lần hai xoay quanh sản xuất hàng loạt tại các doanh nghiệp tích hợp. Mô hình này hợp với Mỹ vì quốc gia này dồi dào khí đốt, dầu mỏ, than, quặng sắt, đồng và đất đai, nhưng khan hiếm lao động, nhất là lao động kỹ năng. Lương cao khiến doanh nghiệp Mỹ dùng nhiều máy móc, nhiên liệu và nguyên liệu rẻ thay thế lao động.
Ngược lại, Anh có lao động kỹ năng linh hoạt nhưng đầu vào khan hiếm và đắt. Đến năm 1938–1939, Ford UK trả giá thép cao hơn Ford US 50%. Các công nghệ sản xuất hàng loạt được thiết kế cho điều kiện Mỹ, nên không phù hợp với Anh. Vì thế, Anh hợp hơn với các ngành thâm dụng kỹ năng và sản xuất theo đơn đặt hàng, như đóng tàu.
Câu chuyện này gợi nhớ sự trỗi dậy của Trung Quốc trong bốn thập niên qua. Nhưng Mỹ ngày nay khác Anh thời Victoria: vẫn ở tuyến đầu công nghệ, còn Trung Quốc đang giảm tốc khi mức sống dần thấp hơn và phải đối mặt với chi phí ô nhiễm, tài nguyên. Không phải định mệnh suy tàn, bài học là tăng trưởng phụ thuộc vào địa lý, nguồn lực, kỹ năng và công nghệ của từng thời kỳ.
shared via work in progress,



