Giỏ hàng

Khối giảm phát và chính trị của lạm phát


Lạm phát không chỉ là chuyện cung tiền
 
Nỗi ám ảnh về lạm phát thập niên 1970 vẫn chi phối tư duy của nhiều nhà hoạch định chính sách. Milton Friedman từng để lại khẩu hiệu quen thuộc: “lạm phát luôn là hiện tượng tiền tệ”, tức giá cả tăng quá nhanh khi nhà nước mở rộng cung tiền quá mức. Tuy nhiên cách hiểu bài này chưa đủ. Tăng cơ sở tiền tệ có thể là điều kiện cần cho lạm phát mất kiểm soát, nhưng không phải điều kiện đủ: từng có những giai đoạn cung tiền tăng mà không có lạm phát, và cũng có những đợt lạm phát xảy ra dù cơ sở tiền tệ chỉ tăng rất ít.
 
Albert Hirschman đưa ra cách nhìn khác: lạm phát mất kiểm soát là hiện tượng chính trị, xuất hiện khi các nhóm xã hội cạnh tranh nhau để giành nguồn lực, còn nhà nước không đủ khả năng điều tiết cuộc cạnh tranh ấy. Từ đây, có thể áp dụng quan điểm của Hyman Minsky nhằm giải thích vì sao các chu kỳ lạm phát và giảm phát trong 50 năm qua bắt nguồn từ xung đột phân phối, thay vì từ kỹ thuật tiền tệ.
 
Minsky và giới hạn của “chủ nghĩa tư bản chính phủ lớn”
 
Minsky thường được nhớ tới qua “khoảnh khắc Minsky”, thời điểm bong bóng nợ tư nhân vỡ tung. Tuy nhiên lý thuyết ông xây dựng rộng hơn nhiều. Với Minsky, tất cả các đơn vị kinh tế như doanh nghiệp, hộ gia đình, người lao động đều phải sống dưới “ràng buộc sinh tồn”: phải có dòng tiền đủ để đáp ứng nghĩa vụ chi trả, hoặc phải vay mới để đảo nợ. Vì vậy, cách xã hội tổ chức tín dụng và dòng tiền quyết định động lực giá cả, phân phối và bất ổn.
 
Trong phân tích về “chủ nghĩa tư bản chính phủ lớn”, Minsky nhận định chính sách hậu chiến hiểu sai khái niệm Keynes. Thay vì nhà nước trực tiếp quy hoạch đầu tư dài hạn và phân bổ nguồn lực, Mỹ bảo vệ lợi nhuận khu vực tư nhân trong suy thoái, bơm cầu thông qua tổ hợp quân sự – công nghiệp và các ngành hàng hóa đầu tư. Cách làm này tạo việc làm tốt trong ô tô, hàng không vũ trụ và các ngành thâm dụng vốn, nhưng tăng bất bình đẳng tiền lương giữa khu vực sản xuất hàng tư liệu và khu vực hàng tiêu dùng. Khi người lao động có thu nhập cao đòi hỏi nhiều hàng tiêu dùng hơn, còn năng lực sản xuất hàng tiêu dùng không mở rộng tương ứng, giá bắt đầu tăng và vòng xoáy lương – giá hình thành.
 
Điểm khác biệt của Minsky là không xem cung tiền do ngân hàng trung ương (NHTW) ấn định từ bên ngoài là động cơ chính. Với ông, tiền trong chủ nghĩa tư bản hiện đại chủ yếu được tạo ra từ tín dụng ngân hàng tư nhân. Nhu cầu vay để mua hàng hóa và tài sản khiến phương tiện thanh toán mở rộng. Không phải vì “in tiền”, NHTW giữ vai trò quan trọng vì điều tiết giá tín dụng và quyết định loại tín dụng tư nhân nào có thể dùng làm tài sản thế chấp để nhận tiền công.
 
Từ lạm phát đình trệ đến chủ nghĩa tư bản quản lý tiền
 
Từ cuối thập niên 1960, tài chính toàn cầu được nới lỏng. Thâm hụt cán cân thanh toán Mỹ, sự suy yếu của hệ thống Bretton Woods và sự nổi lên của thị trường USD bên ngoài nước Mỹ khiến tín dụng bằng USD mở rộng ngoài tầm kiểm soát chính thức của NHTW. Cùng lúc, bùng nổ việc làm thời Mỹ can thiệp quân sự vào Việt Nam khiến chênh lệch lương giữa các ngành ngày càng lớn; cầu tiêu dùng tăng, nhập khẩu tăng, USD suy yếu, còn giá dầu leo thang khiến lợi nhuận kỳ vọng giảm và đầu tư bị kìm lại. Do đó, thập niên 1970 trở thành thời kỳ lạm phát đình trệ: lạm phát cao đi cùng tăng trưởng chậm.
 
Để đối phó, các chính phủ chuyển sang hệ thống Minsky hay chủ nghĩa tư bản quản lý tiền: tài chính được giải điều tiết, tín dụng tư nhân tập trung trong tay các nhà quản lý vốn lớn, còn lợi nhuận đến từ vòng quay nhanh của đầu tư tài chính. Hệ thống này kém ổn định và yếu hơn mô hình “chính phủ lớn”, nhưng ít gây lạm phát hàng tiêu dùng. Lạm phát được chuyển từ tiền lương và giá hàng hóa sang giá tài sản tài chính. Giai đoạn 1979–1982, “Cú sốc Volcker” không chấm dứt lạm phát bằng việc giảm cung tiền nhà nước, mà thông qua phá hủy nhu cầu trong khu vực tư nhân, chấp nhận công suất dư thừa lớn và thất nghiệp cao.
 
Liên minh giảm phát và chính trị của tài sản
 
Điều Minsky không dự báo là trật tự giảm phát này có thể kéo dài. Các chính phủ trao quyền cho tầng lớp hưởng lợi từ tài sản, bù đắp lương trì trệ bằng lợi ích tiêu dùng và tăng giá tài sản, đồng thời dùng các định chế của thời “chính phủ lớn” để hỗ trợ điều tiết tài chính. Ở Mỹ, chính sách nhà ở là trung tâm. Từ Thời kỳ New Deal, nhà nước hỗ trợ thế chấp cố định 30 năm để mở rộng sở hữu nhà. Sau lạm phát ở thập niên 1970, Mỹ điều tiết tín dụng nhưng vẫn bảo vệ nhà ở, biến nhà thành tài sản được nhà nước bảo hiểm và tăng giá. Điều này tạo ra lợi ích cho thế hệ mua nhà trong thập niên 1970–1980, nhưng khiến người trẻ bị đẩy ra khỏi thị trường. Các liên minh chủ nhà lớn tuổi bảo vệ thuế nhà thấp (như Dự luật 13 ở California) và cản xây nhà mới ở vùng có nhu cầu cao.
 
Mô hình tương tự xuất hiện ở các nền kinh tế xuất khẩu. nĂM 1994, Trung Quốc ổn định tỷ giá, giữ lương thấp hơn năng suất nhằm duy trì thặng dư thương mại. Sau thống nhất, ngay khi sử dụng đồng euro, Đức dùng cải cách Hartz giai đoạn 2003–2005 để hạ lương và thúc đẩy việc làm bán thời gian, khiến các nền kinh tế Nam Âu khó tự bảo vệ trước hàng nhập khẩu Đức. Trước khủng hoảng kinh tế năm 2008, thặng dư của các nước xuất khẩu được tái đầu tư vào tài sản USD, góp phần nuôi bong bóng nhà đất Mỹ.
 
Lối thoát hậu giảm phát
 
Chủ nghĩa tân tự do tồn tại dai dẳng vì tập hợp thực hành bảo vệ lợi ích của liên minh giảm phát: chủ ngân hàng, người sở hữu tài sản, chủ nhà ngoại ô và các nhóm phụ thuộc vào tăng giá vốn hơn là tăng lương. Sau Covid-19, nỗi sợ lạm phát lại được dùng để phản đối hỗ trợ trực tiếp cho người dân và thúc ép sớm mở cửa kinh tế.
 
Điểm bất ngờ là các NHTW độc lập (trụ cột của trật tự giảm phát thập niên 1980) nay lại có thể mở đường cho mô hình mới. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương châu Âu bắt đầu xem lại ưu tiên lạm phát so với toàn dụng lao động; sau 2008, Fed dùng hoán đổi tiền tệ, mua tài sản của ngân hàng bóng tối, bước vào thị trường tín dụng doanh nghiệp và thử hỗ trợ chính quyền địa phương cùng doanh nghiệp nhỏ. Nếu quyền lực tín dụng này được dùng để “xã hội hóa tài chính” như Minsky mong muốn, cơ quan đầu tư quốc gia hoặc siêu quốc gia có thể phân bổ tín dụng theo hướng tăng trưởng dẫn dắt bởi tiền lương, không lạm phát cũng không giảm phát. Nhiệm vụ của kinh tế học hậu giảm phát là xây dựng “quy tắc đầu tư” mới: kiểm soát lượng tiền, quyết định tiền nên được chi vào năng lực sản xuất và hàng hóa nào trong từng giai đoạn phát triển.
 
shared via phenomenal world, 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên