Đồng USD và bẫy nợ của các nước nghèo
26/08/26
![]() |
| Sảnh trung tâm tại trụ sở Ngân hàng Thế giới trong khuôn khổ các cuộc họp thường niên của IMF và Ngân hàng Thế giới năm 2017. Ảnh: Yuri Gripas |
Khi Fed trở thành ngân hàng trung ương của thế giới
Đầu năm 2020, “cuộc tháo chạy vào tiền mặt” trên thị trường trái phiếu Kho bạc Mỹ buộc Cục Dự trữ Liên bang (Fed) khởi động lại các đường hoán đổi USD vào giữa tháng 3. Sau khủng hoảng tài chính 2008, Fed New York thiết lập thỏa thuận thường trực cung ứng USD cho năm ngân hàng trung ương (NHTW) nước ngoài chủ chốt. Khi đại dịch làm rung chuyển thị trường toàn cầu, Fed tạm mở rộng swap lines (các đường hoán đổi tiền tệ) cho thêm chín ngân hàng trung ương khác. Những quốc gia kém ưu tiên hơn được tiếp cận cơ sở hợp đồng mua lại dành cho các cơ quan tiền tệ nước ngoài và quốc tế của Fed (FIMA), cho phép đổi trái phiếu Kho bạc Mỹ lấy USD thay vì bán tháo trên thị trường. Tuy nhiên quy mô cho thấy thứ bậc rất rõ: swap lines đạt đỉnh 449 tỷ USD, còn Hợp đồng mua lại FIMA chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD. Mùa xuân 2020, bảng cân đối Fed phình từ 4.000 tỷ USD lên 7.000 tỷ USD, và đến đầu 2022 lên gần 9.000 tỷ USD.
Khủng hoảng Covid-19 phơi bày chênh lệch năng lực tài chính toàn cầu. Các nền kinh tế phát triển tung hỗ trợ tiền tệ và tài khóa tương đương 1/5 GDP; các nền kinh tế nhỏ hơn chỉ 6-7% GDP; các nước nghèo nhất chỉ 2% GDP. Trong nhóm quốc giàu, Mỹ phục hồi mạnh nhất nhờ gói kích thích hơn 5.000 tỷ USD. Năm 2021, tăng trưởng bình quân đầu người ở các nền kinh tế thu nhập thấp chỉ bằng 1/10 các nền kinh tế phát triển.
Bẫy nợ cũ trở lại dưới hình thức mới
Giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính là thời kỳ thống trị USD cấp tính. Khi USD suy yếu, thanh khoản toàn cầu dồi dào, thúc đẩy tín dụng, thương mại và tăng trưởng. Thời điểm USD tăng giá, tín dụng thắt lại, thương mại và đầu tư giảm. Các nền kinh tế mới nổi có nợ lớn bằng USD dễ gặp khủng hoảng ngân hàng hơn. Đồng USD buộc kinh tế thế giới vào hệ sinh thái tài chính căng thẳng.
Trong hai thập niên qua, nhiều nước đang phát triển cố thoát khỏi “original sin” (tình trạng không thể vay bằng đồng tiền quốc gia vì vị thế tiền tệ thấp) bằng việc phát triển thị trường trái phiếu nội tệ. Hiện 90% thị trường trái phiếu chính phủ ở các nền kinh tế mới nổi là trái phiếu nội tệ. Nhưng điều đó không xóa được rủi ro, buộc họ gặp “original sin redux”: thị trường trái phiếu nội tệ cực kỳ nhạy cảm với chu kỳ USD. Khi USD tăng giá, trái phiếu nội tệ bị bán tháo mạnh. Mùa xuân 2020, dòng vốn rút khỏi các nước đang phát triển chủ yếu do mất niềm tin vào trái phiếu nội tệ, còn trái phiếu ngoại tệ ít biến động hơn.
Nợ ngày càng tăng trong trật tự USD
Năm 2020, nợ toàn cầu tăng lên mức chưa từng có: 226.000 tỷ USD; và hơn một nửa đến từ khu vực công. Phát hành nợ chính phủ đạt 58.000 tỷ USD, trong đó 44.000 tỷ USD thuộc các nền kinh tế phát triển, phần còn lại thuộc thị trường mới nổi. Thời đại dịch, ở các nước thu nhập thấp và trung bình, chi tiêu y tế và xã hội khiến phát hành nợ tăng 1/3.
Sau khi Fed thắt chặt tiền tệ thông qua giảm mua tài sản, lãi suất ở Nam bán cầu tăng mạnh. Đến tháng 12/2021, thị trường chứng khoán nợ quốc tế đạt 27.600 tỷ USD (gần một nửa định danh bằng USD), trong đó rái phiếu chính phủ chiếm khoảng một nửa lượng nợ quốc tế ở các thị trường mới nổi (so với dưới 1/5 ở các nền kinh tế phát triển). Các NHTW tăng lãi suất nhằm giữ kỳ vọng lạm phát và trấn an nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên lợi suất cao khiến trả nợ đắt hơn. Điển hình như Sri Lanka, khoảng 1/3 nợ thuộc về chủ nợ nước ngoài, dự trữ chỉ còn 3 tỷ USD, nhưng vẫn phải trả trái phiếu 500 triệu USD, trong khi người dân chịu cắt điện và lạm phát hai chữ số.
Tắc nghẽn tái cơ cấu nợ
Đồng USD không chỉ là tiền dự trữ, mà là cấu trúc pháp lý – tài chính nhiều tầng của nợ quốc tế. Sáng kiến hoãn trả nợ DSSI của G20 kết thúc cuối năm 2021 với kết quả hạn chế: 60% quốc gia thu nhập thấp vẫn có nguy cơ cao hoặc đã rơi vào căng thẳng nợ, chỉ 42/73 nước đủ điều kiện nhận hỗ trợ, vì lo ngại bị hạ xếp hạng tín nhiệm; còn chủ nợ tư nhân nằm ngoài phạm vi chương trình. Khung tái cơ cấu nợ chung của G20 thậm chí còn hẹp hơn, chỉ dành cho quốc gia đối mặt vỡ nợ; ba nước tham gia (Chad, Ethiopia và Zambia) chưa đạt nhiều tiến triển.
Phản ứng của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng bị miêu tả là yếu kém. Phải đến tháng 8/2021 (hơn 15 tháng sau khi khủng hoảng bắt đầu) IMF mới phân bổ hơn 1/10 “hỏa lực” tiền tệ. Trong 650 tỷ USD quyền rút vốn đặc biệt (SDR) phát hành năm 2021, chỉ 21 tỷ USD đến trực tiếp các nước thu nhập thấp. Trong khi đó, năm 2020, chính phủ của các quốc gia đang phát triển đã trả 194 tỷ USD cho trái chủ.
Hơn một nửa trái phiếu chính phủ quốc tế chịu luật bang New York, gần một nửa chịu luật Anh và xứ Wales. Hơn 70% nợ chính phủ ở thị trường mới nổi định danh bằng USD, và hơn 90% trái phiếu chính phủ của các nước đủ điều kiện DSSI chịu luật Anh. Vì vậy, do hiện không có “luật phá sản” cho quốc gia, thế giới cần có cơ chế giúp tái cơ cấu nợ chủ quyền. Nếu không cân bằng lại quyền lực nhà đầu tư bằng luật, hoãn nợ, miễn trừ tài sản chủ quyền hoặc hủy nợ, các nước nghèo sẽ tiếp tục gánh chi phí của trật tự USD bất ổn và bất đối xứng.
shared via phenomenal world,



