Giỏ hàng

Cú sốc Hormuz và cái giá kinh tế với Mỹ Latinh


Khi chiến tranh với Iran rơi vào trạng thái đình trệ giữa đàm phán và lệnh ngừng bắn mong manh, việc bàn về tác động kinh tế với những khu vực xa chiến sự có thể tạo cảm giác lệch trọng tâm. Nhưng chính phạm vi lan rộng của thiệt hại kinh tế, nhất là với các tầng lớp cầm quyền trong lõi tư bản chủ nghĩa, có thể ảnh hưởng đến khả năng ngăn xung đột leo thang. Một lần nữa, cú sốc tại eo biển Hormuz đang làm sống lại nỗi lo lạm phát, trong bối cảnh giá dầu, khí đốt và nhiều hàng hóa thiết yếu tăng mạnh.
 
Với các tập đoàn dầu khí, gián đoạn thương mại dầu thường không chỉ là khủng hoảng. Khi người mua tranh giành từng thùng dầu có sẵn, các ông lớn năng lượng có thể tăng quyền mặc cả và mở rộng biên lợi nhuận. Isabella Weber và Evan Wasner từng gọi hiện tượng này là “lạm phát do người bán”, khi doanh nghiệp trong các ngành có tính hệ thống tận dụng cú sốc nguồn cung để tăng giá vượt chi phí. Trong cuộc khủng hoảng năng lượng năm 2022 sau xung đột Ukraine, các công ty dầu khí có trụ sở tại Mỹ chiếm khoảng 1/3 tổng thu nhập ròng của các công ty dầu khí niêm yết toàn cầu.
 
Người hưởng lợi lớn nhất nằm ở tầng lớp trên cùng. Năm 2022, hơn một nửa lợi nhuận dầu khí rơi vào tay 1% người giàu nhất, trong khi nửa dưới của xã hội chỉ nhận được 1%. Nếu không có phản ứng chính sách khác biệt, chiến tranh Iran và cú sốc Hormuz hiện nay có thể tạo ra chu kỳ phân phối tương tự, lợi nhuận tập trung ở các công ty dầu khí và chủ tài sản, chi phí được chuyển xuống người lao động và người nghèo.
 
Vì sao cú sốc dầu nhanh chóng biến thành lạm phát?
 
Dầu là ngành có tầm quan trọng hệ thống. Giá dầu ảnh hưởng đến vận tải, sản xuất, nông nghiệp, điện, phân bón và rất nhiều hàng hóa, dịch vụ khác. Khi giá dầu tăng, lạm phát tổng thể thường tăng theo, buộc ngân hàng trung ương phải phản ứng.
 
Công cụ quen thuộc của các cơ quan tiền tệ là tăng lãi suất. Nhưng lãi suất cao không thể chấm dứt chiến tranh, mở lại tuyến hàng hải hay tạo thêm dầu trong ngắn hạn. Điều chính sách này làm được là làm yếu nhu cầu, tăng thất nghiệp hoặc siết thu nhập khả dụng, từ đó cố kéo mức giá chung xuống. Gánh nặng điều chỉnh vì vậy thường rơi vào người lao động.
 
Ở các nền kinh tế ngoại vi như Mỹ Latinh, lãi suất thường tăng mạnh hơn. Khi thanh khoản toàn cầu khô lại, các nước phải nâng lãi suất để bảo vệ đồng tiền trước áp lực mất giá. Nếu không, đồng nội tệ suy yếu sẽ làm hàng nhập khẩu đắt hơn và đẩy lạm phát lên cao hơn. Nhưng chính sách này cũng có tính giai cấp rõ rệt. Nó làm tăng phần thu nhập của tầng lớp cho vay và nắm trái phiếu, chuyển doanh thu thuế vào tay người giàu, đồng thời khiến phần lớn người dân mắc nợ chịu chi phí cao hơn.
 
Gốc lý thuyết của phản ứng tăng lãi suất
 
Hơn nửa thế kỷ qua, kinh tế học chính thống đã cung cấp nền tảng cho chính sách tiền tệ bất lợi với người lao động, thông qua cách diễn giải đường Phillips. Ban đầu, A. W. Phillips nghiên cứu quan hệ giữa thất nghiệp và thay đổi tiền lương. Lập luận khá trực quan. Khi thất nghiệp thấp, người lao động có sức mặc cả cao hơn và tiền lương tăng nhanh hơn.
 
Nhưng đến năm 1960, Paul Samuelson và Robert Solow chuyển trọng tâm từ lạm phát tiền lương sang lạm phát giá cả nói chung. Trong cách hiểu này, nếu thị trường lao động thắt chặt khiến tiền lương danh nghĩa tăng, doanh nghiệp sẽ chuyển chi phí này vào giá bán. Lạm phát vì vậy được nhìn chủ yếu như kết quả của tiền lương tăng. Chính lối tư duy này mở đường cho ý tưởng, muốn hạ lạm phát, phải làm yếu thị trường lao động.
 
Từ cuối thập niên 1960, Milton Friedman và Edmund Phelps tiếp tục củng cố bước ngoặt này khi cho rằng chính phủ không thể duy trì thất nghiệp thấp bằng cách chấp nhận lạm phát cao, vì kỳ vọng lạm phát sẽ tự điều chỉnh. Từ đó, ổn định giá cả dần thay thế toàn dụng lao động như mục tiêu trung tâm của chính sách kinh tế. Khi chế độ lạm phát mục tiêu trở nên thống trị trong thập niên 2000, ngân hàng trung ương thường dùng cùng một công cụ tăng lãi suất cho nhiều loại cú sốc giá, kể cả những cú sốc bắt nguồn từ dầu, khí đốt hoặc địa chính trị.
 
Nhưng nếu lạm phát đến từ gián đoạn nguồn cung, cách tiếp cận này bộc lộ giới hạn. Các nguyên nhân lạm phát có thể gồm tiền lương, lợi nhuận, giá nhập khẩu và thuế gián thu. Khi cú sốc dầu xuất hiện, chính sách phù hợp có thể là đánh thuế lợi nhuận bất thường, kiểm soát giá có mục tiêu, quốc hữu hóa năng lượng hoặc thúc đẩy khử carbon có kế hoạch, thay vì chỉ đẩy lãi suất lên và buộc người lao động trả giá.
 
Bài học từ cú sốc năng lượng năm 2022
 
Năm 2022, sau khi xung đột Ukraine làm giá năng lượng tăng mạnh, các ngân hàng trung ương ban đầu cố chờ cú sốc qua đi, vì biết lãi suất không phải công cụ phù hợp. Nhưng khối ủng hộ thắt chặt tiền tệ nhanh chóng gây sức ép, lập luận rằng nếu không hành động, kỳ vọng lạm phát sẽ mất neo và giá cả – tiền lương sẽ xoáy lên như thập niên 1970.
 
Đến giữa năm 2023, lãi suất chính sách ở Mỹ và Anh tăng từ gần 0 lên 5%. Khu vực đồng euro tăng lên 4%, mức chưa từng có kể từ khi đồng tiền chung ra đời. Chính sách này góp phần làm thị trường lao động yếu đi, đúng theo logic giảm lạm phát bằng cách giảm sức mặc cả của người lao động.
 
Tại Mỹ Latinh, các nước theo lạm phát mục tiêu hành động mạnh hơn. Năm 2023, Peru nâng lãi suất từ dưới 1% sau Covid-19 lên 7,75%. Chile tăng lên 11,25%. Brazil và Colombia đưa lãi suất vượt 13%, Mexico tăng từ 4% lên 11,25%. Cách làm này giúp một số nước bảo vệ tỷ giá và hạn chế lạm phát nhập khẩu. Năm 2022, đồng real Brazil, peso Mexico và sol Peru thậm chí mạnh lên so với USD, trái với xu hướng USD tăng toàn cầu.
 
Nhưng chi phí phân phối rất lớn. Ở những nền kinh tế như Brazil, nơi phần lớn trái phiếu công có lãi suất thả nổi, lãi suất cao làm tăng thu nhập cho người nắm giữ trái phiếu. Nói cách khác, chính sách tiền tệ không nhất thiết làm tăng thất nghiệp mạnh như ở các nước giàu, nhưng vẫn chuyển thu nhập từ hệ thống thuế và người đi vay sang tầng lớp sở hữu tài sản tài chính.
 
Hormuz có thể lặp lại kịch bản cũ
 
Câu hỏi hiện nay là liệu cú sốc Hormuz có tái tạo kịch bản năm 2022 không. Quy mô cú sốc lần này có thể lớn hơn xung đột Ukraine, tùy vào thời gian phong tỏa và mức độ gián đoạn. Tháng 3, ngay khi các cuộc tấn công bắt đầu, giá dầu đã vượt 100 USD/thùng, tương tự năm 2022. Không chỉ dầu, nguồn cung khí tự nhiên, phân bón, helium, lưu huỳnh và nhiều hàng hóa khác cũng bị ảnh hưởng.
 
Nếu ngân hàng trung ương các nước giàu quay lại thắt chặt tiền tệ, chu kỳ nới lỏng bắt đầu từ năm 2024 có thể bị chặn lại. Khi đó, áp lực mất giá có thể lan khắp Mỹ Latinh, buộc các ngân hàng trung ương trong khu vực tăng lãi suất để bảo vệ đồng tiền. Ngay cả các nước xuất khẩu dầu như Brazil và Mexico, vốn có thể hưởng lợi từ giá dầu cao, cũng sẽ bị gián đoạn nếu cú sốc đảo chiều chu kỳ tài chính toàn cầu.
 
Cho đến nay, đồng tiền Brazil và Colombia đã tăng giá, trong khi đồng Peru giảm nhẹ; biến động mạnh hơn xuất hiện ở Chile và Mexico. Nhưng nếu chính sách tiền tệ ở phương Bắc chuyển sang co thắt, khu vực Mỹ Latinh có thể đối mặt áp lực tăng lãi suất, dòng vốn rút ra và chi phí nợ cao hơn.
 
Cú sốc dầu vì vậy không chỉ là câu chuyện giá năng lượng. Đây là cơ chế phân phối lại của cải. Trực tiếp, lợi nhuận dầu khí chảy lên các công ty và cổ đông giàu có. Gián tiếp, phản ứng tăng lãi suất chuyển thêm thu nhập về phía tầng lớp cho vay và nắm giữ tài sản tài chính. Nếu các chính phủ tiếp tục dùng cùng công cụ cho mọi cú sốc giá, người nghèo và người lao động sẽ tiếp tục gánh hóa đơn cho những cuộc chiến ở rất xa họ.
 
shared via phenomenalworld,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên