Giỏ hàng

Châu Âu và bài học từ tham vọng chip


Châu Âu muốn giành lại vị thế trong ngành bán dẫn bằng Đạo luật Chip châu Âu, trong bối cảnh chip trở thành tài sản chiến lược của cả kinh tế lẫn quốc phòng. Tuy nhiên, đây không phải lần đầu lục địa này mơ về “Eurochip”. Thập niên 1980, châu Âu từng rót tiền cho các chương trình tham vọng nhằm bắt kịp Mỹ và Nhật, nhưng kết quả chỉ tạo ra vài doanh nghiệp đáng kể, trong khi sự phụ thuộc vào chip nhập khẩu vẫn còn. Bài học lớn không nằm ở việc có nên làm chính sách công nghiệp hay không, mà là nhà nước có đủ năng lực kỷ luật doanh nghiệp và dẫn dắt công nghệ hay không.
 
Nỗi lo không mới
 
Năm 1987, tạp chí Nature đăng tiêu đề “Chiến tranh thương mại thế giới phủ bóng thỏa thuận vi mạch”. Nghe như dòng tin của hôm nay, nhưng khi đó Mỹ vừa ký thỏa thuận song phương với Nhật để thúc đẩy xuất khẩu bán dẫn và hạn chế nhập khẩu từ Nhật. Châu Âu tức giận, cho rằng Washington và Tokyo đang bắt tay kiểm soát thị trường toàn cầu, đồng thời đe dọa đưa vụ việc ra Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại, tức GATT. Bối cảnh ấy rất giống hiện nay: chip là đầu vào then chốt của cả công nghiệp dân sự lẫn quân sự; các cường quốc coi bán dẫn là vấn đề an ninh; còn thương mại tự do nhanh chóng nhường chỗ cho chính sách công nghiệp và kiểm soát công nghệ.
 
Đầu thập niên 1980, Tây Âu tụt lại rõ rệt. Theo OECD, năm 1982 Mỹ chiếm 50% sản lượng mạch tích hợp toàn cầu và 49% tiêu thụ. Nhật đạt 30% sản lượng, vượt châu Âu, nơi chỉ chiếm 17%. Ngay tại thị trường nội địa, doanh nghiệp châu Âu chỉ nắm 30%, trong khi công ty Mỹ chiếm 62%. Từ năm 1977 – 1982, Nhật tăng thị phần, còn châu Âu mất thêm vị trí. Phản ứng của châu Âu là phát triển “Eurochip”, đi kèm chương trình ESPRIT nhằm thúc đẩy sản xuất vi điện tử cạnh tranh. Song cả hai đều không đạt mục tiêu chính: giảm phụ thuộc vào chip nước ngoài.
 
Vì sao Eurochip 1.0 thất bại?
 
ESPRIT không hoàn toàn vô ích. Nó góp phần tạo ra một số doanh nghiệp công nghệ quan trọng như STMicroelectronics và Vodafone, đồng thời thúc đẩy hợp tác xuyên châu Âu. Tuy nhiên, những thành quả này nằm xa rìa công nghệ bán dẫn tiên tiến. Ngay cả khi có tiền, nguồn lực không được gắn với thay đổi sâu trong cấu trúc ngành điện tử.
 
Cốt lõi thất bại nằm ở cách thiết kế chính sách. Thay vì để một cơ quan công có năng lực xác định mục tiêu công nghệ, áp đặt điều kiện và giám sát doanh nghiệp, châu Âu để các tập đoàn đương nhiệm định hình chương trình. Những công ty lớn như Siemens, Philips, CGE và các thành viên “Big Twelve” có ảnh hưởng quá lớn trong việc chọn dự án, thiết kế ưu tiên và phân bổ nguồn lực. Hơn 80% hợp đồng ban đầu rơi vào tay 12 công ty này; đến năm 1986, họ vẫn nhận hơn một nửa ngân sách ESPRIT.
 
Vấn đề không chỉ là doanh nghiệp lớn nhận nhiều tiền. Vấn đề là họ có thể nhận hỗ trợ công mà không phải thay đổi đủ mạnh có xu hướng chọn các dự án gần với lợi ích sẵn có, né rủi ro công nghệ thật sự và thiếu động lực bám theo mục tiêu dài hạn khi thị trường đổi hướng. Năm 1985, dự án Philips-Siemens về chip RAM 1MB là ví dụ: nó nhắm vào sản phẩm đã trở thành tiêu chuẩn đại trà toàn cầu vào năm 1986, tức không còn ở tuyến đầu. Khi đó, nhà nước châu Âu trao “tình yêu” nhưng thiếu “kỷ luật”. Có trợ cấp, có phối hợp, có khẩu hiệu chiến lược, nhưng thiếu điều kiện buộc tái cấu trúc, thiếu giám sát cứng và thiếu cạnh tranh chọn lọc giữa các doanh nghiệp.
 
Mỹ, Nhật và Đài Loan làm khác
 
Trong khi châu Âu bị các tập đoàn đương nhiệm dẫn dắt, Mỹ, Nhật và Đài Loan theo đuổi các mô hình quyết đoán hơn. Tại Mỹ, dù kỷ nguyên Reagan thường gắn với đồng thuận thị trường tự do, nhà nước vẫn duy trì “nhà nước phát triển ẩn” trong công nghệ cao. Bộ Quốc phòng tài trợ các chương trình mạch tích hợp tốc độ rất cao, máy tính chiến lược, công nghệ liên quan đến phòng thủ tên lửa và sau đó là SEMATECH. Các cơ quan công, đại học, trung tâm nghiên cứu, công viên công nghệ và doanh nghiệp cùng tham gia mạng lưới đổi mới. Công nghiệp bán dẫn Mỹ không phát triển nhờ nhà nước rút lui, mà nhờ nhà nước can thiệp qua những kênh ít phô trương hơn.
 
Tại Nhật, Bộ Công nghiệp và Thương mại Quốc tế, tức MITI, đóng vai trò điều phối trung tâm. Các dự án kéo dài cả thập niên, hướng vào linh kiện quang điện tử, siêu máy tính, mạch chống bức xạ và máy tính thế hệ thứ năm. Chính phủ không trực tiếp điều hành từng công ty, nhưng có quyền đặt ưu tiên, phân bổ ngân sách, điều phối ngân hàng và buộc doanh nghiệp tham gia hợp tác nghiên cứu. Đài Loan còn là bài học rõ hơn. Từ thập niên 1970, nhà nước tạo Tổ chức Nghiên cứu và Dịch vụ Điện tử, tức ERSO, để tìm đối tác nước ngoài, tiếp nhận công nghệ và xây năng lực trong nước. ERSO không chiều theo doanh nghiệp nội địa đương nhiệm, mà giữ quyền định hướng chiến lược. Từ đó ra đời UMC và sau này TSMC, công ty hiện là mắt xích không thể thiếu của kinh tế toàn cầu. Điểm chung của các mô hình thành công là nhà nước không chỉ phát tiền. Nhà nước chọn hướng, đặt điều kiện, buộc hợp tác, giữ năng lực giám sát và không để doanh nghiệp sẵn có biến chính sách công nghiệp thành kênh bảo vệ đặc quyền.
 
Bài học cho Đạo luật chip châu Âu
 
Ngày nay, Liên minh châu Âu lại muốn trở lại cuộc đua bán dẫn. Sau nhiều thập niên thắt lưng buộc bụng và tin vào cạnh tranh thị trường, Covid-19 và xung đột địa chính trị tái hợp pháp hóa vai trò điều phối đầu tư và sản xuất của nhà nước. Đạo luật Chip châu Âu đánh dấu sự thay đổi quan trọng. Tuy nhiên, rủi ro là Eurochip 2.0 có thể lặp lại sai lầm thập niên 1980. Hiện nay, các tuyên bố nhấn mạnh quy mô ngân sách và mục tiêu lớn, nhưng còn thiếu chi tiết về cơ chế đổi lại: doanh nghiệp nhận hỗ trợ công phải đạt mốc công nghệ nào, chuyển giao gì, đầu tư bao nhiêu, chịu giám sát ra sao, và bị phạt thế nào nếu rút lui. Nếu không có các điều kiện này, chính sách có thể bị các tập đoàn đương nhiệm chiếm dụng. Tiền công sẽ chảy vào những dự án chắc chắn được triển khai, đổi mới thật sự vẫn thiếu động lực. Châu Âu có thể tạo thêm nhà máy, nhưng không nhất thiết tạo được năng lực công nghệ ở tuyến đầu.
 
Bài học Eurochip không phải châu Âu nên từ bỏ chính sách công nghiệp. Ngược lại, nó cho thấy chính sách công nghiệp là cần thiết, nhưng chỉ hiệu quả khi nhà nước có năng lực chiến lược. Điều này đòi hỏi mục tiêu dài hạn, chỉ tiêu đo lường rõ, giám sát minh bạch, khoản vay có điều kiện, quyền sở hữu cổ phần khi cần, và sự tham gia của các lực lượng đối trọng để tránh doanh nghiệp lớn tự viết luật chơi. Với ngành bán dẫn, thị trường không tự tạo chủ quyền công nghệ. Song, trợ cấp cũng không tự tạo năng lực. Nếu châu Âu muốn có Eurochip 2.0 khác Eurochip 1.0, câu hỏi không phải là chi bao nhiêu tiền mà là ai cầm lái.
 
shared via phenomenalworld,

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên