Vì sao thuế giá trị đất thất bại ở Anh
16/07/26
Cuối thế kỷ 19, tư tưởng của nhà kinh tế Mỹ Henry George lan rộng trong thế giới nói tiếng Anh. Trong cuốn Progress and Poverty (Tiến bộ và nghèo đói), ông nhận định địa tô là phần thặng dư xã hội lớn nhất và nhà nước nên đánh thuế tối đa vào giá trị đất. Cuốn sách bán được vài triệu bản, trở thành một trong những tác phẩm ăn khách nhất thời đó.
Ở Anh, ý tưởng này đến đúng lúc cánh tả thời Edward gặp hai vấn đề lớn: quyền lực chính trị của giới địa chủ và khủng hoảng tài chính của chính quyền địa phương. Đến năm 1900, 77% dân Anh sống ở đô thị, nhưng đất đai vẫn nằm trong tay một nhóm nhỏ. Năm 1880, 322 trong 652 nghị sĩ sở hữu hơn tám triệu m². Thượng viện còn chịu ảnh hưởng địa chủ mạnh hơn, với 308 trong khoảng 800 thành viên thuộc nhóm 6.000 chủ đất lớn nhất nước Anh.
Sau khi mất nhiều địa chủ ủng hộ vì vấn đề quyền tự trị Ireland năm 1886, đảng Tự do ngày càng gắn với cải cách đất đai. Đến bầu cử năm 1906, 68% ứng viên Tự do ở Anh ủng hộ cải cách đất, và 52% nhắc đến thuế giá trị đất trong cương lĩnh.
Bài toán ngân sách địa phương
Sức hút của thuế giá trị đất không chỉ đến từ lý tưởng chống địa chủ. Chính quyền địa phương Anh gánh vác rất nhiều nhiệm vụ: y tế công, nước sạch, xử lý nước thải, cảnh sát, giáo dục bắt buộc cho trẻ 5–12 tuổi (từ năm 1870), và cứu tế người nghèo. Chi tiêu địa phương tăng từ chưa đến 1/3 tổng chi tiêu chính phủ năm 1870 lên hơn một nửa vào năm 1905.
Tuy nhiên, nguồn thu quá eo hẹp. Năm 1900, 3/4 ngân sách địa phương đến từ đánh thuế thu nhập cho thuê bất động sản. Vì tiền thuê đô thị chỉ tương đương khoảng 10% GDP, 1/10 nền kinh tế phải gánh gần như toàn bộ ngân sách chính quyền địa phương. Hộ lao động đô thị có thể chi tới 1/3 thu nhập cho tiền thuê nhà, trong đó khoảng 7% là thuế địa phương. Trong khi đó, chủ nhà thượng lưu có thu nhập từ 1.000 bảng trở lên chỉ trả khoảng 7% thu nhập cho cả tiền nhà hoặc thế chấp và thuế địa phương.
Khi đường sắt và xe điện London được điện khí hóa, người khá giả chuyển ra ngoại ô, bỏ lại khu trung tâm nghèo hơn với gánh nặng cứu tế lớn. Từ 1891–1901, thuế địa phương tại các quận nội đô London tăng 30–50%. Từ năm 1905, suy thoái khiến thất nghiệp đô thị tăng lên hai chữ số, khiến áp lực ngày càng nặng.
Canh bạc của Lloyd George
Sau chiến thắng lớn năm 1906, chính phủ Tự do muốn vừa cải cách phúc lợi, vừa tài trợ cuộc chạy đua hải quân với Đức. Năm 1909, Bộ trưởng Tài chính David Lloyd George đưa ra “Ngân sách Nhân dân”, tăng thuế thu nhập với người giàu và áp ba sắc thuế đất mới: thuế 2,5%/năm với đất xây dựng chưa phát triển, phụ thu 5% với tiền bản quyền khai mỏ, và thuế 20% với phần tăng giá trị đất khi chuyển nhượng.
Thượng viện, nơi phe Tự do chỉ còn 7% sau khi giới địa chủ rời đảng, phá lệ hàng thế kỷ khi phủ quyết dự luật ngân sách. Cuộc khủng hoảng hiến pháp dẫn tới bầu cử tháng 2/1910. Đảng Tự do thắng sít sao, hơn Bảo thủ hai ghế nhưng thua ba điểm phần trăm phiếu phổ thông, rồi phải dựa vào Công đảng và phe dân tộc Ireland để cầm quyền. Sau đó, họ thông qua ngân sách và Đạo luật Quốc hội năm 1911, tước quyền phủ quyết tuyệt đối của Thượng viện.
Nhưng khi đi vào thực thi, thuế giá trị đất vấp phải vấn đề cốt lõi: không thể xác định chính xác “giá trị đất” tách khỏi nhà cửa, hạ tầng và cải tạo. Gần 10 triệu bất động sản phải được định giá. Tháng 8/1910, chính phủ gửi 10,5 triệu bản “Mẫu 4”, yêu cầu chủ sở hữu khai chi tiết thu nhập, tình trạng sử dụng và tự ước tính giá trị đất; không nộp bị phạt 50 bảng, tương đương khoảng 7.500 bảng hiện nay.
Giới địa chủ lập Land Union và đưa mọi điểm mơ hồ ra tòa. Tháng 2/1914, phán quyết Scrutton vô hiệu hóa toàn bộ định giá đất nông nghiệp, gần như chặn thuế 2,5% với đất chưa phát triển và thuế tăng giá trị đất áp cho đất nông nghiệp.
Thuế thu ít hơn chi phí
Thay vì buộc giới đầu cơ đưa đất vào sử dụng, thuế mới lại làm giảm lợi nhuận của chủ đầu tư xây dựng, hạ giá đất xây dựng và làm suy yếu tài sản thế chấp. Sản lượng xây nhà giảm từ 100.000 căn năm 1909 xuống 61.000 căn năm 1912.
Đồng thời, tài chính công gặp thất bại. Đến năm 1914, chương trình định giá tốn 2 triệu bảng nhưng thuế đất chỉ đem lại 500.000 bảng. Chính quyền địa phương không được cứu. Từ 1908–1913, trợ cấp cho địa phương chỉ tăng 2%, trong khi chi tiêu tăng 18%. Các hiệp hội chính quyền địa phương cảnh báo hệ thống giáo dục có nguy cơ sụp đổ.
Chiến tranh thế giới I chấm dứt nỗ lực này. Định giá bị đóng băng trong chiến tranh và chính thức dừng năm 1920. Năm 1922, chính Lloyd George (lúc đó là thủ tướng) bãi bỏ các sắc thuế đất còn lại.
Bài học cho hiện tại
Thất bại của Anh cho thấy thuế giá trị đất thuần túy không dễ vận hành. Những quốc gia thu được nhiều từ đất như Mỹ và Nhật thực chất dựa vào thuế bất động sản, không phải thuế riêng trên giá trị đất chưa cải tạo. Australia và New Zealand từng áp dụng rồi bãi bỏ. Ở Đan Mạch, thuế này chỉ chiếm dưới 2% tổng thu. Đài Loan miễn nhà ở chủ sở hữu và đất nông nghiệp (hai loại đất quan trọng nhất).
Bài học lớn hơn là chính quyền địa phương không thể đầu tư hạ tầng, vệ sinh, giao thông và dịch vụ công nếu trách nhiệm quá rộng nhưng nguồn thu quá hẹp. Từ năm 1929, Anh bắt đầu phân phối lại nguồn thu địa phương bằng trợ cấp trung ương. Đến năm 1948, khoảng 30% ngân sách địa phương đến từ trợ cấp; ngày nay tỷ lệ này gần 2/3.
Khi địa phương tăng thu, họ lại bị giảm trợ cấp trung ương, nên không hưởng đủ lợi ích tài chính từ xây thêm nhà và thu hút thêm cư dân. Hệ quả, các khu vực có nhu cầu cao có động cơ hạn chế phát triển, còn chính phủ trung ương không đầu tư đủ cho hạ tầng dài hạn. Từ 1906–1914, Đảng Tự do đã bỏ lỡ cơ hội lớn nhất đặt thuế bất động sản và tài chính địa phương Anh trên nền tảng bền vững. Người hưởng lợi cuối cùng lại chính là chủ đất.
shared via works in progress,



