Đồng lira rơi và cái giá của tăng trưởng vay mượn
04/08/26
Từ cuối năm 2021, kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ liên tục thách thức các kỳ vọng kinh tế thông thường. Quốc gia này duy trì lãi suất thực âm sâu, lạm phát cao, thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và dai dẳng, nợ nước ngoài vượt 50% GDP, trong khi dự trữ ngoại hối ròng của ngân hàng trung ương được ước tính khoảng âm 50 tỷ USD. Cuộc khủng hoảng dường như luôn ở ngay phía trước.
Trong năm 2023, Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ nâng lãi suất từ mức thấp 8,5% vào tháng 6 lên 42,5% vào tháng 12, cú đảo chiều mạnh so với chính sách trước đó. Trong phần lớn năm 2022, lãi suất thực âm khiến nhà đầu tư tháo chạy khỏi đồng lira, đẩy tiền tệ mất giá nhanh. Vì sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào nhập khẩu, đồng lira yếu làm chi phí tăng và nhanh chóng truyền vào giá cả. Đến tháng 8/2022, lạm phát vọt lên 80%.
Dù thắt chặt chính sách tiền tệ, lạm phát Thổ Nhĩ Kỳ vẫn trên 60%. Tỷ lệ thất nghiệp gần 10%, trong khi hơn một nửa người có việc làm nhận mức lương xấp xỉ lương tối thiểu, vốn bị kéo xuống dưới chuẩn nghèo khi lạm phát ăn mòn sức mua.
Mô hình thành công của IMF và cái bẫy vốn ngoại
Gốc rễ khủng hoảng nằm ở hai thập niên chính sách khiến không gian điều hành của Thổ Nhĩ Kỳ ngày càng hẹp, phụ thuộc vào vốn ngoại và đầu vào nhập khẩu. Cuối thập niên 1990, nước này đối mặt bất ổn và lạm phát cao. Chương trình giảm lạm phát do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dẫn dắt năm 2000 lại kích hoạt một trong những khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong lịch sử quốc gia: đầu năm 2001, dòng vốn tháo chạy gây khủng hoảng tiền tệ, rồi lan thành khủng hoảng ngân hàng và tài chính.
IMF đáp lại bằng thắt lưng buộc bụng: lãi suất cao, thặng dư ngân sách sơ cấp và hàng loạt tư nhân hóa. Đúng lúc đó, thanh khoản toàn cầu tăng và lãi suất quốc tế giảm, khiến Thổ Nhĩ Kỳ với lãi suất cao trở thành điểm đến hấp dẫn. Sau khi Erdoğan lên nắm quyền năm 2002, ông tuân thủ sát chương trình IMF, vốn nước ngoài ồ ạt chảy vào. Đến năm 2006, tỷ lệ dòng vốn ngoại/GDP đạt 11,3%, mức kỷ lục lịch sử.
Khủng hoảng tài chính 2008 không phá vỡ mô hình này. Nới lỏng định lượng ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bản lại bơm thanh khoản toàn cầu, giúp Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục hút vốn, chủ yếu qua đầu tư danh mục và nợ nước ngoài tư nhân. Từ năm 2010, tăng trưởng tiếp diễn nhưng đi kèm thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và nợ nước ngoài khu vực tư nhân tăng.
Khi dòng vốn đổi chiều
Từ giữa thập niên 2010, khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) chuyển sang thắt chặt định lượng, các điểm yếu lộ ra. Morgan Stanley xếp Thổ Nhĩ Kỳ vào nhóm “Fragile Five” (năm nền kinh tế mới nổi dễ tổn thương) cùng Indonesia, Brazil, Ấn Độ và Nam Phi, các quốc gia có thâm hụt tài khoản vãng lai lớn và nợ nước ngoài cao. Muốn giữ tỷ giá ổn định, Thổ Nhĩ Kỳ cần hút vốn bằng lãi suất cao, nhưng điều đó gây chậm tăng trưởng. Tuy nhiên, giữ lãi suất thấp sẽ dẫn đến việc đồng lira chịu áp lực mất giá, thậm chí khủng hoảng tiền tệ.
Chuỗi bầu cử 2015–2019 khiến chính phủ Erdoğan ưu tiên tăng trưởng ngắn hạn. Năm 2017, Quỹ Bảo lãnh Tín dụng (ban đầu nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa) được dùng để mở rộng tín dụng. Tăng trưởng kéo theo thâm hụt lớn; khi vốn ngoại chậm lại, áp lực lên đồng lira tăng mạnh. Năm 2018, tòa tháp sụp đổ: khủng hoảng tiền tệ, tăng lãi suất và suy thoái.
Thí nghiệm lãi suất thấp
Sau đại dịch Covid-19, môi trường toàn cầu không còn thuận lợi. Năm 2020, đợt hạ lãi suất để hỗ trợ kinh tế đã đẩy Thổ Nhĩ Kỳ tới sát khủng hoảng cán cân thanh toán, trong khi ngân hàng trung ương đã dùng phần lớn dự trữ ngoại tệ để giữ tỷ giá. Mùa thu 2020, lãi suất buộc phải tăng nhằm ổn định thị trường ngoại hối.
Năm 2021, Erdoğan mở thí nghiệm lãi suất thấp, thay bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương bằng những nhân vật phi chính thống ủng hộ giảm lãi. Chính phủ lập luận lãi suất thấp thúc đẩy đầu tư sản xuất, còn đồng lira yếu khuyến khích thay thế nhập khẩu, từ đó xóa thâm hụt tài khoản vãng lai. Thực tế, đồng lira rơi tự do. Người dân bán tài sản bằng lira để mua ngoại tệ, khiến chính phủ phải tung ra “tài khoản tiền gửi bảo vệ tỷ giá”: nếu lira mất giá mạnh hơn lãi suất tiền gửi, ngân hàng trung ương hoặc Bộ Tài chính phải bù phần chênh lệch.
Công cụ này, cùng kiểm soát chọn lọc giao dịch hoán đổi lira-ngoại tệ giữa ngân hàng nội địa và thị trường London, giúp hạn chế đô la hóa và đầu cơ. Nhưng cái giá là ngân hàng trung ương phải can thiệp bằng dự trữ ngoại hối đi vay, đẩy dự trữ ròng xuống âm và khiến chính sách lãi suất thấp ngày càng khó duy trì. Thâm hụt tài khoản vãng lai năm 2022 càng làm áp lực lớn hơn. Trước bầu cử tổng thống 2023, chính phủ không muốn từ bỏ tác động kích thích của lãi suất thực âm; chỉ sau khi thắng cử, họ mới đổi hướng.
Gánh nặng trở lại với người lao động
Thí nghiệm này phần nào duy trì tăng trưởng và việc làm, nhưng đồng lira lao dốc cùng lạm phát cao khiến nhiều người lâm vào nghèo đói. Lương tăng chậm hơn giá cả, lương thực giảm; trong khi doanh nghiệp điều chỉnh giá, thậm chí tăng lợi nhuận. Lãi suất thấp và lạm phát cao tạo cơ hội đầu tư bằng nợ, nhưng cũng kích thích đầu cơ bằng nợ (đặc biệt trong bất động sản). Kết quả là tỷ trọng thu nhập của người lao động giảm chưa từng có.
Trường hợp của Thổ Nhĩ Kỳ là các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi cho thấy hội nhập sâu qua thương mại mở và dòng vốn tài chính có rất ít không gian chính sách. Chính sách tiền tệ độc lập gần như không thể áp dụng nếu thiếu kiểm soát vốn. Giai đoạn nới lỏng chỉ khả thi nhờ kiểm soát chọn lọc vốn, can thiệp ngoại hối nặng nề và sản phẩm tài chính mới để giữ người dân trong đồng lira. Tháng 6/2023, Erdoğan bổ nhiệm bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương mới nhằm trấn an các trung tâm tài chính quốc tế. Điều ngày càng rõ là gánh nặng điều chỉnh sẽ lại đặt lên người lao động: lương tăng sau lạm phát, còn lãi suất cao và thắt lưng buộc bụng có thể khiến thất nghiệp tăng.
shared phenomenal world,



