Giỏ hàng

Nước sạch ở Mỹ: Phép màu hiện đại trở nên đắt đỏ


Nước sạch là một trong những thành tựu lớn nhất của văn minh đô thị: cứu sống trẻ em, đẩy lùi dịch bệnh và giúp thành phố hiện đại có thể sống được. Từ đầu thập niên 1980, hóa đơn nước và thoát nước tại Mỹ tăng hơn gấp đôi, dù lượng nước dùng trên đầu người giảm. Một phần nguyên nhân nằm ở các quy định liên bang ngày càng khắt khe, đôi khi buộc thành phố chi hàng tỷ USD để giảm những rủi ro rất nhỏ, trong khi người dân phải trả giá qua hóa đơn, ngân sách và cả nguồn cung nhà ở.
 
Thành phố xanh vẫn bị buộc chi thêm tỷ USD
 
San Francisco là một trong những đô thị có tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt nhất nước Mỹ. Thành phố cam kết không đưa rác ra bãi chôn lấp vào năm 2030, dùng 100% năng lượng sạch vào năm 2040, từng đi đầu trong cấm túi nhựa và lò hơi khí đốt mới.
 
Năm 2019, Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, EPA, vẫn yêu cầu San Francisco hành động để hạn chế điều mà cơ quan cho là ô nhiễm Thái Bình Dương. Mệnh lệnh chồng lên yêu cầu sẵn có, buộc thành phố chi gần 11 tỷ USD nâng cấp hệ thống nước thải – tương đương khoảng 13.000 USD mỗi cư dân.
 
Vấn đề không phải San Francisco thờ ơ với vệ sinh đô thị; trái lại, đây là ví dụ cho thấy các chuẩn mực liên bang có thể vượt xa điều mà ngay cả những thành phố cấp tiến nhất cũng xem là cần thiết. Khi quy định không biết dừng, nước sạch trở thành dịch vụ ngày càng đắt đỏ.
 
Phép màu từng cứu thành phố
 
Phần lớn lịch sử, thành phố là nơi nguy hiểm; người chết nhiều hơn người sinh, các đô thị phải liên tục được bù đắp bằng dòng người từ nông thôn. Năm 1900, tỷ lệ tử vong do bệnh truyền nhiễm ở các thành phố lớn của Mỹ cao hơn vùng nông thôn 75%. Các bệnh lây qua nước như tả, thương hàn và kiết lỵ chiếm phần lớn thảm họa.
 
Vài thập niên sau, bức tranh đảo ngược nhờ lọc nước, khử trùng bằng clo, cống rãnh và xử lý nước thải, tỷ lệ tử vong ở đô thị giảm mạnh. Các nghiên cứu cho rằng nước sạch đóng góp khoảng 1/2 mức giảm tử vong chung, 2/3 mức giảm tử vong trẻ em và 3/4 mức giảm tử vong trẻ sơ sinh đầu thế kỷ 20.
 
Đây là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của chính quyền địa phương. Từ Poughkeepsie với bộ lọc cát chậm năm 1872, Somerville với lọc cát nhanh năm 1885, đến Chicago nâng cả khu trung tâm lên để lắp cống và đảo dòng sông Chicago nhằm đưa nước thải khỏi nguồn nước uống, các thành phố Mỹ đã tự xây nên nền tảng vệ sinh hiện đại.
 
Khi Washington tiếp quản nước
 
Thập niên 1970, mọi thứ thay đổi. Vụ sông Cuyahoga ở Cleveland bốc cháy năm 1969, cùng các sự cố tràn dầu và ô nhiễm khác, tạo cảm giác chính quyền địa phương không đủ nghiêm túc với môi trường. Năm 1972, quốc hội Mỹ thông qua Clean Water Act và Safe Drinking Water Act năm 1974, đưa vấn đề nước từ cấp bang và địa phương lên thành chính sách liên bang.
 
Về nguyên tắc, kiểm soát ô nhiễm là cần thiết; song nước khác với nhiều loại ô nhiễm khác: lợi ích và chi phí của nước sạch chủ yếu mang tính địa phương; người dân địa phương uống nước, trả hóa đơn, bầu chính quyền quản lý hệ thống nước và chịu hệ quả nếu chất lượng nước kém. Khi Washington đặt tiêu chuẩn từ xa, cán cân chi phí – lợi ích dễ bị lệch. Chính quyền liên bang có động cơ giảm rủi ro tối đa; hóa đơn lại đổ về thành phố, hộ gia đình và dự án nhà ở.
 
Hóa đơn nước tăng vì rủi ro rất nhỏ
 
Từ năm 1970, Mỹ chi khoảng 5.000 tỷ USD theo giá hiện hành để chống ô nhiễm nước, tương đương khoảng 0,8% GDP hằng năm. Đây có thể là khoản đầu tư môi trường đắt đỏ nhất lịch sử Mỹ.
 
Ngày nay, một hộ gia đình đô thị Mỹ trung bình trả khoảng 1.300 USD mỗi năm cho nước và nước thải, gần bằng hóa đơn điện. Ở San Francisco, trước cả các yêu cầu mới, chi phí nước đã khoảng 3.600 USD mỗi năm.
 
New York là ví dụ điển hình; thành phố nổi tiếng có nguồn nước chất lượng cao từ các hồ chứa được bảo vệ bởi không gian xanh. Phần lớn lịch sử, nước New York không cần lọc. Năm 1997, EPA kiện thành phố, buộc xây nhà máy lọc nước từ hệ thống Croton để xử lý hai loại ký sinh trùng hiếm gặp.
 
Năm 2015, nhà máy mở cửa, chậm một thập niên và tốn 3,2 tỷ USD, hơn gấp đôi ước tính ban đầu. Sau khoản chi khổng lồ, quan chức thành phố thừa nhận với công chúng rằng nước về cơ bản vẫn “như cũ”. Số ca nhiễm hai loại ký sinh trùng mà EPA nhắm tới vốn rất hiếm, thường chỉ gây đau bụng nhẹ, và khó chứng minh lợi ích sức khỏe rõ ràng.
 
Khi quy định khiến đô thị khó phát triển
 
Nước không chỉ đắt hơn, quy định nước còn ảnh hưởng đến cách đô thị phát triển. Sau Clean Water Act, nhiều tòa án và cơ quan quản lý bắt đầu dùng năng lực cống rãnh như công cụ hạn chế xây dựng. Nếu hệ thống nước thải chưa đạt chuẩn, địa phương có thể bị cấm cấp thêm kết nối mới. Nhiều nơi đặt lệnh tạm dừng đấu nối cống, tạo ra rào cản trực tiếp với nhà ở mới.
 
Điều trớ trêu là ngăn phát triển trong khu có hạ tầng đô thị không nhất thiết làm giảm ô nhiễm; có thể đẩy dân cư ra xa hơn, vào các khu mật độ thấp dùng giếng khoan và bể tự hoại, gây ô nhiễm phân tán. Tuy nhiên, vì tiêu chuẩn nước thường không điều chỉnh theo dân số hoặc tổng lợi ích xã hội, tăng trưởng đô thị bị xem như gánh nặng thay vì cơ hội dùng hạ tầng hiệu quả hơn.
 
Cùng lúc, các công ty nước được khuyến khích áp dụng giá nước tăng theo bậc để giảm tiêu dùng. Song chi phí của hệ thống nước phần lớn là cố định: đường ống, bảo trì, xử lý, nhân sự. Thêm nước mỗi tháng thường không tốn nhiều như việc duy trì kết nối cho từng hộ. Khi doanh thu phụ thuộc vào lượng nước bán ra nhưng chính sách lại yêu cầu bán ít hơn, các tiện ích càng ngại mở rộng.
 
Nước không khan hiếm như ta tưởng
 
Ở nhiều nơi, tiết kiệm nước trong hạn hán là cần thiết. Song trên toàn nước Mỹ, nước sinh hoạt công cộng chiếm chưa đến 15% tổng lượng nước dùng. Phần lớn nước được dùng cho tưới tiêu nông nghiệp hoặc làm mát trong phát điện.
 
Nếu cần thêm nước cho đô thị, cách hợp lý thường là chuyển một phần nước từ tưới tiêu giá trị thấp sang sử dụng đô thị giá trị cao. Tuy nhiên, các giao dịch khó diễn ra vì quy định, hạ tầng yếu, cấu trúc giá sai lệch và niềm tin phổ biến rằng nước phải được “giữ lại” thay vì phân bổ cho nơi dùng hiệu quả nhất. Nhiều công ty nước không xem nhiệm vụ là đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, mà là hạn chế nhu cầu. Điều này khác hẳn hầu hết dịch vụ khác trong nền kinh tế.
 
Biết làm sạch, nhưng không biết dừng
 
Không ai phủ nhận nước sạch là thiết yếu. Lịch sử đô thị Mỹ chứng minh lọc nước, clo hóa và xử lý nước thải đã cứu hàng triệu mạng sống. Song thành công không đồng nghĩa mọi yêu cầu làm nước “sạch hơn nữa” đều đáng giá.
 
Hiện nay, vấn đề của chính sách nước Mỹ là khuynh hướng “mạ vàng”: thêm từng lớp yêu cầu đắt đỏ để giảm thiểu rủi ro. Khi lợi ích không rõ ràng nhưng chi phí rất thật, người dân phải trả qua hóa đơn nước cao, nợ đô thị lớn và nhà ở khó xây hơn.
 
Câu hỏi không phải có nên bảo vệ nước sạch hay không; câu hỏi là ai nên cân bằng chi phí và lợi ích. Với nước uống và hạ tầng địa phương, người dân và chính quyền địa phương có động cơ rất mạnh để giữ hệ thống an toàn. Vai trò liên bang có thể cần thiết khi ô nhiễm vượt biên giới bang, nhưng các mệnh lệnh áp từ xa dễ biến thận trọng thành lãng phí.
 
Nước sạch là phép màu của đô thị hiện đại; song phép màu có thể bị làm cho quá đắt nếu nhà quản lý chỉ biết cách làm sạch hơn, mà không biết khi nào nên dừng lại.
 
shared via wip,
 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên