JBS và mặt trái của chiến lược “quán quân quốc gia” ở Brazil
28/09/26
![]() |
| Người chăn gia súc tại Cotriguaçú, Mato Grosso, Brazil. Ảnh: Icaro Cooke Vieira/CIFOR |
Từ doanh nghiệp thịt đến câu hỏi phát triển
Sau lễ nhậm chức của Tổng thống Donald Trump năm ngoái, dư luận chú ý nhiều đến sự hiện diện của các lãnh đạo Big Tech. Tuy nhiên, khoản đóng góp lớn nhất cho ủy ban nhậm chức không đến từ Apple, Amazon, Meta hay Google, mà từ Pilgrim’s Pride, công ty Mỹ thuộc sở hữu của JBS, tập đoàn thực phẩm khổng lồ có nguồn gốc từ Brazil. Khoản 5 triệu USD của Pilgrim’s Pride lớn hơn tổng đóng góp của giám đốc Apple và các tập đoàn công nghệ lớn cộng lại.
Chi tiết này mở ra câu chuyện rộng hơn về JBS. Công ty không chỉ là tập đoàn chế biến thịt lớn. Đây còn là phép thử cho tư duy phát triển tại Brazil. Nhà nước nên hỗ trợ doanh nghiệp trong nước đến đâu, với điều kiện nào, điều gì xảy ra khi “quán quân quốc gia” trở nên quá lớn để kiểm soát?
JBS có mối quan hệ lâu dài với Ngân hàng Phát triển Brazil, BNDES, cơ quan hiện sở hữu khoảng 1/5 cổ phần công ty. Với người ủng hộ thị trường tự do, các bê bối quanh JBS là bằng chứng cho thấy can thiệp nhà nước dễ dẫn đến tham nhũng và thân hữu. Kết luận này quá đơn giản. Thị trường không điều tiết cũng dễ sinh lạm dụng và tập trung doanh nghiệp. Lịch sử phát triển của nhiều nước đi sau cho thấy nhà nước thường phải can thiệp nếu muốn bắt kịp.
Vấn đề không phải có can thiệp hay không, mà là can thiệp tạo ra cấu trúc kinh tế và liên minh chính trị nào.
Sự trỗi dậy nhờ BNDES
JBS khởi đầu từ cửa hàng thịt trong nội địa Brazil, do gia đình Batista sở hữu. Công ty tận dụng thị trường mới do việc xây dựng Brasília tạo ra, rồi dần mua lại các nhà máy chế biến thịt khác. Năm 2005, bước ngoặt đến khi JBS mua Swift-Armour tại Argentina bằng khoản vay từ BNDES, bao phủ 85% giá trị thương vụ.
Từ đó, JBS mở rộng rất nhanh. Năm 2007, nhánh đầu tư cổ phần BNDESPar rót 1,1 tỷ reais vào công ty để mua mảng kinh doanh tại Mỹ của Swift, giúp JBS trở thành nhà sản xuất thịt bò lớn nhất thế giới. Trong các năm sau, với hỗ trợ của BNDES và các quỹ hưu trí nhà nước, JBS tiếp tục mua Smithfield, National Beef, Five Rivers, Pilgrim’s Pride, Bertin, mở rộng sang gia cầm và trở thành nhà sản xuất protein động vật lớn nhất thế giới.
Trong thập niên sau thương vụ quốc tế đầu tiên, doanh thu ròng của JBS tăng 40 lần. Năm 2010, từ chỗ không nằm trong 400 doanh nghiệp lớn nhất Brazil năm 2002, công ty đã vươn lên vị trí thứ năm vào và lọt vào Fortune Global 500.
Tuy nhiên, đà tăng trưởng ấy đi cùng bê bối. Năm 2017, giữa các cáo buộc trốn thuế, phá rừng và hối lộ thanh tra vệ sinh, anh em Joesley và Wesley Batista đạt thỏa thuận với công tố viên Brazil, cung cấp các đoạn ghi âm liên quan đến nhiều chính trị gia, trong đó có Tổng thống Michel Temer. Công ty mẹ của JBS cam kết trả 3,2 tỷ USD tiền bồi thường. Hai anh em sau đó vẫn bị giam gần một năm.
“Quán quân quốc gia” có phát triển đất nước không?
Chiến lược hỗ trợ các “quán quân quốc gia” từng được một số nhà phát triển Brazil xem là cách đưa doanh nghiệp trong nước ra thế giới, tăng xuất khẩu, giảm tổn thương đối ngoại và giữ các hoạt động giá trị cao như quản trị, tài chính, đổi mới, thương hiệu, công nghệ ở lại Brazil.
BNDES là công cụ trung tâm của chiến lược ấy. Từ năm 2005–2013, dư nợ ròng của ngân hàng này tăng gần gấp ba theo giá trị thực, có lúc quy mô danh mục tương đương Ngân hàng Thế giới. Nhiều tập đoàn Brazil vươn ra quốc tế trong giai đoạn này đều nhận hỗ trợ từ BNDES.
Song, kết quả không rõ ràng. Brazil tích lũy được dự trữ ngoại hối lớn, nhưng nền kinh tế vẫn dễ tổn thương trước chu kỳ tài chính toàn cầu. Về xuất khẩu, Brazil chủ yếu tăng thị phần trong nông nghiệp và khoáng sản, trong khi các ngành công nghệ cao hơn như hóa chất, điện tử, máy móc, xe cộ lại suy giảm. Nói cách khác, chiến lược này không chuyển đổi cơ cấu sản xuất, mà củng cố lợi thế sẵn có như tài nguyên, đất đai và hàng hóa sơ cấp.
Khi phát triển tạo ra phản lực chính trị
Trường hợp JBS còn cho thấy rủi ro chính trị của chính sách phát triển. Dù nắm cổ phần lớn, BNDES nhiều lần không thể định hướng công ty. Khi JBS muốn chuyển trụ sở sang Ireland, ngân hàng phát triển đã phản đối. Tuy nhiên, thỏa thuận sau đó vẫn khiến phần lớn doanh số JBS được chuyển sang cấu trúc ở nước ngoài. BNDES cũng không thành công trong việc kiềm chế lương thưởng lãnh đạo.
Quan trọng hơn, sự lớn mạnh của JBS và các tập đoàn chế biến thịt tạo ra chuỗi cung ứng mang tính độc quyền mua. Hàng nghìn chủ trang trại chăn nuôi và nông dân trồng đậu tương bị đặt dưới áp lực từ vài doanh nghiệp chế biến lớn. Từ đó, khối xã hội phản đối các “quán quân quốc gia” hình thành, gồm nhiều chủ trang trại nhỏ và vừa, sau này trở thành cơ sở quan trọng của lực lượng nông nghiệp ủng hộ Bolsonaro.
Bài học ở đây không phải phủ nhận vai trò của BNDES. Ngược lại, ngân hàng này là tài sản thể chế quan trọng của Brazil. Nhưng mọi chiến lược phát triển cần tính đến hệ quả chính trị. Nếu nhà nước dùng năng lực công để tạo ra tập đoàn khổng lồ trong các ngành sơ cấp, nhưng không ràng buộc được chúng với mục tiêu xã hội, chính sách phát triển có thể vừa củng cố lệ thuộc sản xuất, vừa nuôi dưỡng những lực lượng chống lại chính nền dân chủ cần thiết để duy trì phát triển dài hạn.
shared via phenomenalworld,



