Khi bảo hộ trở thành điều kiện để hợp tác toàn cầu
28/08/26
![]() |
| Ảnh: Mia Angioy/Noema |
Toàn cầu hóa từng được xây trên niềm tin thương mại tự do và thị trường mở sẽ kéo các nền kinh tế xích lại gần nhau. Nhưng nghịch lý của thế kỷ 21 là chính sự trỗi dậy của Trung Quốc trong trật tự ấy lại khiến phương Tây quay về với bảo hộ, trợ cấp và chính sách công nghiệp do nhà nước dẫn dắt. Mỹ sợ mất vị thế, Trung Quốc sợ bị kìm hãm, châu Âu sợ tụt lại. Trong cuộc đua mới về bán dẫn, AI, xe điện và năng lượng xanh, hợp tác toàn cầu có thể chỉ trở lại khi mỗi trung tâm quyền lực cảm thấy đủ an toàn về năng lực công nghiệp của mình.
Nghịch lý của thời toàn cầu hóa
Các sử gia tương lai có thể sẽ nhìn cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21 như thời kỳ đầy mỉa mai. Phương Tây từng mời nhà nước do Đảng Cộng sản lãnh đạo bước vào nền kinh tế toàn cầu dựa trên thương mại tự do, thị trường mở và nguyên tắc tư bản chủ nghĩa. Song, kết quả không phải Trung Quốc trở nên giống phương Tây hơn. Ngược lại, sự trỗi dậy của Trung Quốc khiến chính phương Tây chuyển sang bảo hộ, trợ cấp và chính sách công nghiệp, đúng những công cụ họ từng chỉ trích Bắc Kinh sử dụng để tạo lợi thế không công bằng.
Trớ trêu thay, việc Mỹ mở cửa với Trung Quốc trong thập niên 1970, và Trung Quốc mở cửa với phương Tây, ban đầu mang logic an ninh: kiềm chế Liên Xô. Nửa thế kỷ sau, Trung Quốc lại xích gần Nga hơn cả giai đoạn cuối Chiến tranh Lạnh, lần này nhằm mục tiêu ngược lại: hạn chế ưu thế của Mỹ trong chính trật tự đã giúp Trung Quốc vươn lên.
Cùng lúc, cả Đông lẫn Tây đều đối mặt với ba cú sốc chung: phi toàn cầu hóa, biến đổi khí hậu và cách mạng công nghệ, đặc biệt là AI. Những vấn đề này đáng lẽ đòi hỏi hợp tác. Nhưng trên thực tế, chúng đang thúc đẩy các cường quốc dựng lại năng lực công nghiệp của riêng mình.
Ba nỗi sợ, ba chiến lược công nghiệp
Sự trở lại của chiến lược công nghiệp là điểm hội tụ của thời đại mới. Nhà nước không còn chỉ đứng ngoài điều tiết thị trường, mà trực tiếp định hình sản xuất, chuỗi cung ứng, công nghệ và năng lượng. An ninh quốc gia giờ gắn chặt với năng lực công nghiệp.
Trung Quốc gọi chiến lược là “hai vòng tuần hoàn”: tăng tự lực trong nước, củng cố tiêu dùng và sản xuất nội địa, làm chủ công nghệ AI bằng nguồn lực riêng, đồng thời xuất khẩu phần năng lực sản xuất dư thừa ra nước ngoài và mở rộng quan hệ thương mại với các nước Nam bán cầu. Động lực của Bắc Kinh là nỗi sợ bị phương Tây chặn đường trước khi kịp bắt kịp.
Nước Mỹ dưới thời Joe Biden chọn chiến lược kết hợp giữa trợ cấp, thuế quan và kiểm soát công nghệ. Đạo luật CHIPS thúc đẩy sản xuất bán dẫn trong nước, đồng thời hạn chế Trung Quốc tiếp cận công nghệ tuyến đầu và tái cấu trúc chuỗi cung ứng sang các nước thân hữu. Đạo luật Giảm lạm phát khuyến khích đầu tư lớn vào năng lượng sạch. Nhưng cùng lúc, Washington áp thuế 100% với xe điện Trung Quốc và chuẩn bị thêm rào cản với linh kiện như pin.
Châu Âu cũng không thể đứng ngoài. Liên minh châu Âu muốn theo đuổi Thỏa thuận Xanh châu Âu theo điều kiện của mình, đồng thời tăng thuế với xe điện Trung Quốc và chống lại tác động từ các điều khoản “mua hàng Mỹ” trong chính sách của Washington. Nếu không hành động, vốn và doanh nghiệp xanh có thể chạy sang Mỹ để tận dụng trợ cấp, khiến công nghiệp xanh châu Âu bị rỗng ruột trước khi kịp trưởng thành.
Cơ hội sinh tử của châu Âu
Trong bối cảnh ấy, Mario Draghi – cựu Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu và cựu Thủ tướng Ý đã đưa ra kế hoạch công nghiệp dài hạn cho châu Âu. Ông gọi khoảng cách với Mỹ và Trung Quốc là “thách thức hiện sinh” đối với lối sống châu Âu.
Theo Draghi, nếu châu Âu không tăng năng suất, lục địa này sẽ buộc phải lựa chọn. Châu Âu không thể cùng lúc dẫn đầu công nghệ mới, là ngọn hải đăng trách nhiệm khí hậu, giữ vai trò độc lập trên thế giới và duy trì mô hình xã hội hào phóng. Nếu không tăng trưởng, một số tham vọng, thậm chí tất cả, sẽ phải bị cắt giảm.
Draghi đề xuất củng cố thị trường chung, giảm phân mảnh giữa các quốc gia thành viên, nới lỏng một số quy định sáp nhập để doanh nghiệp có thể đạt quy mô lớn hơn, và đầu tư khoảng 800 tỷ euro mỗi năm. Khoản tiền này có thể đến từ phát hành nợ chung ở cấp Liên minh châu Âu – ý tưởng vẫn gây tranh cãi, nhất là với các nước như Đức.
Theo tính toán của ông, nếu dòng vốn vay ấy được chi đúng mục tiêu, đặc biệt cho đổi mới công nghệ, nó có thể tự trả giá bằng cách nâng năng suất toàn châu Âu thêm 2%, qua đó giúp lục địa cạnh tranh tốt hơn với Mỹ và Trung Quốc.
Biến nợ chung thành tài sản chung
Điểm khó là làm sao khiến kế hoạch nợ chung trở nên dễ chấp nhận hơn về chính trị. Một hướng đi là kết hợp đề xuất của Draghi với ý tưởng của Chủ tịch Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen về Quỹ tài sản chủ quyền châu Âu.
Nếu khoản vay chung được dùng để gieo vốn cho quỹ tài sản chủ quyền, mô phỏng một phần theo quỹ hưu trí bắt buộc của Úc, người dân châu Âu có thể trực tiếp hưởng lợi từ năng suất tăng lên trong các ngành công nghiệp và công nghệ mới. Khi ấy, chính sách công nghiệp không chỉ là trợ cấp cho doanh nghiệp, mà trở thành khế ước xã hội: người dân cùng tài trợ tương lai sản xuất và cùng hưởng phần lợi tức từ nó.
Úc là ví dụ đáng chú ý. Năm 1992, Thủ tướng Paul Keating lập quỹ hưu trí bắt buộc sau khi cải cách tài chính, cắt thuế và thương lượng lương ở cấp doanh nghiệp giúp năng suất tăng mạnh. Mục tiêu là để người lao động nắm một phần của cải mới tạo ra. Đến nay, quỹ này đã đạt gần 4.000 tỷ USD, tương đương khoảng 230% GDP, đầu tư khắp thế giới và trong nước, đặc biệt vào hạ tầng – loại tài sản phù hợp với vốn dài hạn. Nhờ đó, tài sản bình quân của người trưởng thành trong độ tuổi bầu cử tại Úc đạt khoảng 773.000 USD, thuộc nhóm cao nhất thế giới.
Bảo hộ chỉ nên là khoảng đệm
Câu hỏi lớn là liệu các chiến lược công nghiệp riêng rẽ của Mỹ, Trung Quốc và châu Âu có thành công hay không. Điều này phụ thuộc vào điểm then chốt: đầu tư xây dựng năng lực quốc gia phải kéo dài đủ lâu và đủ mạnh để vượt qua giai đoạn bảo hộ. Thuế quan, trợ cấp và kiểm soát công nghệ chỉ nên là khoảng đệm tạm thời nhằm tái cân bằng những điều kiện cạnh tranh bất đối xứng, không phải trạng thái vĩnh viễn.
Nếu thất bại, thế giới sẽ chỉ có thêm phân mảnh, trả đũa và lãng phí vốn. Nhưng nếu thành công, nghịch lý sẽ xuất hiện: những chính sách tưởng như chống toàn cầu hóa lại có thể trở thành điều kiện cho một kiểu hợp tác toàn cầu mới.
Bởi chỉ khi Trung Quốc, Mỹ và châu Âu tin mình còn kiểm soát được vận mệnh công nghiệp, công nghệ và năng lượng của bản thân, họ mới đủ an toàn để mở cửa trở lại. Thế giới hợp tác không thể xây trên nỗi sợ bị lệ thuộc mà chỉ có thể hình thành khi các trung tâm quyền lực đủ tự tin, đủ năng lực và đủ tài sản chiến lược để bước vào bàn đàm phán mà không cảm thấy tương lai của mình nằm trong tay người khác.
shared via noemamag,



