Tiếp tục thập niên mất mát?
27/08/26
Hiện nay, cuộc khủng hoảng nợ ở vùng ngoại vi của kinh tế toàn cầu cho thấy khả năng trả nợ của một quốc gia không chỉ phụ thuộc vào kỷ luật tài khóa, mà còn vào quyền lực tiền tệ. Trong thời kỳ bùng nổ, nhà đầu tư sẵn sàng mua tài sản bằng các đồng tiền ngoại có lãi suất cao hơn. Tuy nhiên khi khủng hoảng đến, họ nhanh chóng rút khỏi khối tài sản ấy để tìm nơi trú ẩn trong đồng USD và các đồng tiền lõi. Phần lớn tài sản an toàn của thế giới được định danh bằng USD hoặc các đồng tiền trung tâm, chủ yếu là nợ chính phủ được ngân hàng trung ương (NHTW) và nhà nước bảo đảm. Các nước dùng đồng tiền ngoại vi không có đặc quyền đó và rất dễ rơi vào vòng xoáy mất thanh khoản, mất giá tiền tệ cùng khủng hoảng nợ chủ quyền.
Covid-19 phơi bày sự bất đối xứng này. Trong khi các nước lõi tung kích thích tài khóa và tiền tệ khổng lồ với lãi suất rất thấp, các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi lại chứng kiến sự tháo chạy của dòng vốn. Từ tháng 1 đến tháng 4/2020, vốn tư nhân ngừng chảy vào nhóm nước trên, còn dòng vốn rút ra đạt 96 tỷ USD (mức cao nhất lịch sử). Cùng lúc, thương mại toàn cầu, đầu tư trực tiếp nước ngoài, giá hàng hóa cơ bản và du lịch đều sụt giảm, khiến phần lớn doanh thu của các nước ngoại vi phải dùng để trả nợ bằng đồng tiền lõi.
Thanh khoản thiếu, nợ phình to
Theo Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển, trong năm 2020, nhu cầu tài trợ của các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi (không tính Trung Quốc) có thể lên tới 2.500 tỷ USD và có nguy cơ đạt 3.000 tỷ USD năm 2022. Ngay cả khi tài trợ chính thức không đổi, khu vực công tại các nước này vẫn thiếu khoảng 735 tỷ USD, gồm cả nợ dài hạn và ngắn hạn. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có mở đường hoán đổi tiền tệ cho một số NHTW như Brazil, Mexico và Hàn Quốc, nhưng phần lớn các nước đang phát triển bị loại khỏi hệ thống bảo hiểm thanh khoản USD.
Vì vậy, khủng hoảng thanh khoản đang nhanh chóng biến thành khủng hoảng khả năng trả nợ. Các quốc gia có ba lựa chọn khó: cắt nguồn lực trong nước để trả nợ, vay thêm để trì hoãn vấn đề, hoặc tìm tới Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Không ngạc nhiên khi 100/189 nước thành viên của IMF thuộc nhóm thu nhập thấp và đề nghị hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp. Trong số đó, nhiều nước đã hoặc sắp phải tái cơ cấu nợ hay vỡ nợ.
Quyền rút vốn đặc biệt bị ngăn chặn
Giải pháp tức thời là phát hành thêm quyền rút vốn đặc biệt, tức tài sản tiền tệ quốc tế do IMF tạo ra trên cơ sở cam kết bằng đồng nội tệ của các nước thành viên. Năm 2009, tổ chức này từng phát hành 204 tỷ quyền rút vốn đặc biệt (tương đương 318 tỷ USD) để giảm tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu. Phần lớn ước tính nhận định khủng hoảng hiện nay cần ít nhất 500 tỷ USD quyền rút vốn đặc biệt mới, giúp các nước có thêm dư địa tài khóa chống dịch và chống suy thoái. Tuy nhiên, cuộc họp mùa xuân của IMF tháng 4/2020 chỉ đưa ra các biện pháp yếu. Mỹ, nắm gần 17% quyền biểu quyết và có quyền phủ quyết thực tế, ngăn chặn mở rộng quyền rút vốn đặc biệt nhằm cản trở đối thủ địa chính trị tiếp cận nguồn lực không điều kiện.
Hoãn nợ không đủ cứu hệ thống
Hai sáng kiến giảm gánh nợ tồn tại giới hạn rõ ràng. IMF giảm nghĩa vụ trả nợ cho 27 nước thành viên thông qua Quỹ Tín thác Kiềm chế và Cứu trợ Thảm họa. Từ ngày 1/5 đến
cuối năm 2020 Nhóm G20 triển khai Sáng kiến Hoãn trả Nợ, cho phép 76 nước thuộc Hiệp hội Phát triển Quốc tế và nhóm kém phát triển nhất xin hoãn 8 tháng thanh toán gốc và lãi nợ song phương. Nhưng các sáng kiến trên chỉ hoãn dòng trả nợ, không xử lý tổng nợ; phụ thuộc vào ngân sách viện trợ sẵn có và loại trừ nợ tư nhân. Các chủ nợ tư nhân từ chối tự nguyện tham gia, còn ba hãng xếp hạng tín nhiệm lớn cảnh báo việc yêu cầu hoãn nợ có thể dẫn tới hạ bậc tín nhiệm.
cuối năm 2020 Nhóm G20 triển khai Sáng kiến Hoãn trả Nợ, cho phép 76 nước thuộc Hiệp hội Phát triển Quốc tế và nhóm kém phát triển nhất xin hoãn 8 tháng thanh toán gốc và lãi nợ song phương. Nhưng các sáng kiến trên chỉ hoãn dòng trả nợ, không xử lý tổng nợ; phụ thuộc vào ngân sách viện trợ sẵn có và loại trừ nợ tư nhân. Các chủ nợ tư nhân từ chối tự nguyện tham gia, còn ba hãng xếp hạng tín nhiệm lớn cảnh báo việc yêu cầu hoãn nợ có thể dẫn tới hạ bậc tín nhiệm.
Bên cạnh đó, sáng kiến của G20 bỏ sót khoảng 50 nền kinh tế mới nổi thu nhập thấp và trung bình, nhóm đang nắm khoảng 95% tổng nợ chủ quyền nước ngoài của vùng ngoại vi. Vì vậy, vấn đề nằm ở câu hỏi khi nào nguy cơ vỡ nợ và tái cơ cấu xảy ra.
Cần cơ chế phá sản chủ quyền
Khủng hoảng nợ năm 1982 mang đến bài học lớn. Khi Paul Volcker – cựu Chủ tịch Fed nâng lãi suất từ khoảng 11% năm 1979 lên 20% năm 1981, nhiều nước Mỹ Latinh và châu Phi bị đẩy vào khủng hoảng nợ. Các chương trình thắt lưng buộc bụng và điều chỉnh cơ cấu khiến Ủy ban Kinh tế Liên Hợp Quốc về Mỹ Latinh và Caribe gọi những năm tiếp theo là “thập niên mất mát”.
Ngày nay, chủ nợ đa dạng hơn nhiều: Câu lạc bộ Paris, ngân hàng thương mại, Trung Quốc và vô số quỹ trái phiếu. Nợ chủ quyền vẫn là một trong những khu vực ít được điều tiết nhất của tài chính toàn cầu, đồng thời không có cơ quan phá sản quốc tế cho quốc gia như trong quy định phá sản doanh nghiệp hay cá nhân. Từ năm 1970, hơn một nửa các vụ tái cơ cấu với chủ nợ tư nhân dẫn tới rất nhiều rủi ro mới. Ngày nay, thế giới cần cơ chế phá sản chủ quyền quốc tế giúp phân bổ tổn thất minh bạch, có trách nhiệm và công bằng hơn giữa chủ nợ, quốc gia đi vay và người dân của quốc gia ấy.
shared via phenomenal world,



