Hậu Brexit, dâu tây Anh được hái bởi lao động Trung Á
23/06/26
![]() |
| Shukrat Djuraev tại trang trại Homefield, ở Kent, Anh. Ảnh: Andrew Testa |
Trong đường hầm nhà kính khổng lồ ở Kent, miền nam nước Anh, Shukrat Djuraev cần cắt tỉa hàng chục luống dâu tây. Người đàn ông 44 tuổi đến từ Bukhara, Uzbekistan, cách quê nhà hơn 4.800 km, nhưng không than phiền. Với ông, công việc ở Anh ổn định, đều đặn và yên bình hơn nhiều so với những năm làm kỹ sư khoan dầu khí tại Nga.
Djuraev là một trong hàng nghìn lao động thời vụ mà nông dân Anh phụ thuộc mỗi năm để đưa trái cây và nông sản lên kệ siêu thị. Trước Brexit, phần lớn lao động nông trại đến từ Đông Âu. Sau khi Anh rời Liên minh châu Âu, nhóm này mất quyền tự do làm việc tại Anh. Nhiều cử tri từng nghĩ Brexit sẽ khiến lao động nước ngoài giảm mạnh. Nhưng 10 năm sau cuộc trưng cầu dân ý, các trang trại Anh vẫn cần người nhập cư. Chỉ khác là nguồn lao động đã dịch chuyển xa hơn, sang Trung Á.
Từ Đông Âu sang Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan
Hiện nay, nhiều lao động thời vụ tại Anh đến từ Kyrgyzstan, Tajikistan, Kazakhstan và Uzbekistan theo thị thực sáu tháng. Năm 2023, Anh cấp hơn 32.000 thị thực lao động thời vụ. Bốn nước tuyển dụng nhiều nhất là Kyrgyzstan, chiếm 24%, Tajikistan 17%, Kazakhstan 15% và Uzbekistan 13%.
Sự thay đổi này phản ánh khoảng cách giữa khẩu hiệu chính trị và nhu cầu kinh tế. Brexit từng được vận động bằng cam kết “giành lại quyền kiểm soát” biên giới. Khi ấy, nhập cư là một trong những vấn đề then chốt khiến cử tri Anh chia rẽ sâu sắc. Thập niên sau, nhập cư vẫn là áp lực chính trị lớn, khi các đảng cánh hữu chống nhập cư tiếp tục khai thác tâm lý bất mãn của cử tri.
Tuy nhiên, thực tế tại các nông trại lại phức tạp hơn nhiều so với khẩu hiệu. Nhiều chủ trang trại nói họ không thể vận hành nếu thiếu lao động nước ngoài. Sau Brexit, một số lao động Ukraine, Nga và Belarus từng lấp chỗ trống. Khi xung đột Ukraine nổ ra, các công ty tuyển dụng Anh phải tìm xa hơn và chọn Trung Á, nơi mức lương trong nước còn thấp, nhiều lao động trẻ đang tìm cơ hội ở nước ngoài.
Trang trại Anh không thể thiếu lao động nhập cư
Với nhiều người Trung Á, làm việc tại Anh là cơ hội kinh tế lớn. Djuraev nói khoản tiền kiếm được tại trang trại Homefield ở Kent đã giúp ông mua được căn hộ ở quê nhà. Ông hiện sống cùng bốn người Tajikistan trong nhà di động thiết kế cho sáu người và hy vọng có thể quay lại Anh thêm ít nhất ba mùa vụ.
Tim Chambers, CEO WB Chambers, công ty vận hành Homefield và 25 trang trại khác trong vùng, nói thẳng rằng nếu không có lao động thời vụ, doanh nghiệp sẽ không thể tồn tại. Năm 1952, công ty gia đình này được thành lập, mỗi năm cung cấp khoảng 3.500 tấn mâm xôi và dâu tây cho các siêu thị Anh. Với ngành phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết và lịch giao hàng của siêu thị, thiếu nhân công đúng thời điểm có thể khiến cả vụ thu hoạch bị thiệt hại.
Dù bao bì trái cây có thể in cờ Anh, ngôn ngữ vang lên trên các cánh đồng Kent thường là tiếng Nga, thứ tiếng được dùng rộng rãi tại Trung Á. Trong thập niên 1990, công ty từng thuê nhiều lao động Anh nhưng hiện rất ít người bản địa muốn làm công việc thời vụ. Không có việc làm quanh năm, họ khó vay tín dụng hoặc thế chấp mua nhà. Người đang nhận trợ cấp cũng có thể mất khoản hỗ trợ khi đi hái quả, phải nộp đơn lại sau mùa vụ, khiến công việc không còn hấp dẫn.
Chênh lệch tiền lương tạo lực hút lớn
Mức lương tối thiểu tại Anh là 12,71 bảng/giờ, tương đương khoảng 16,8 USD. Lao động thời vụ được bảo đảm 32 giờ làm/tuần, một số người có thể kiếm khoảng 700 bảng/tuần hoặc hơn. Trong khi đó, năm 2024, lương trung bình tại Kyrgyzstan chỉ hơn 300 bảng/tháng. Chênh lệch này giải thích vì sao nhiều lao động trẻ Trung Á, vốn trước đây thường sang Nga, nay nhìn sang Anh như thị trường hấp dẫn hơn.
Theo Christopher Gerry, hiệu trưởng Đại học Trung Á tại Bishkek, thế hệ lao động trẻ ở Kyrgyzstan ngày càng kết nối với thế giới qua mạng xã hội, quan tâm tới thị trường lao động toàn cầu và muốn học tiếng Anh. Cùng lúc, kinh tế Nga biến động sau cuộc chiến Ukraine, trong khi các báo cáo về thái độ thù địch với người Trung Á khiến điểm đến truyền thống này kém hấp dẫn hơn trước.
Một số lao động miêu tả công việc ở Anh là vất vả nhưng đáng giá. Orozbek Saipidin, lao động từ Kyrgyzstan, kể rằng trong chuyến đi đầu tiên 5 năm trước, lưng, tay và chân đau nhức đến mức có ngày ông khóc trong phòng tắm và tự hỏi vì sao mình đến đây. Nhưng sau khoảng ba tuần, ông quen việc và bắt đầu kiếm được 550–600 bảng/tuần. Với ông, sáu tháng ở Anh có thể thay đổi đời sống gia đình.
Cơ hội đi kèm rủi ro bóc lột
Dù vậy, chương trình lao động thời vụ cũng gây nhiều lo ngại. Các tổ chức từ thiện cho biết một số lao động bị bóc lột, trong khi thị thực sáu tháng khiến họ khó đòi quyền lợi. Vì giấy phép thường gắn với chủ sử dụng lao động, người lao động dễ rơi vào thế phụ thuộc. Nếu bị đối xử tệ, họ có thể im lặng vì sợ mất việc, nhất là khi nhiều người đã vay tiền để sang Anh và không rành ngôn ngữ.
Dora-Olivia Vicol, giám đốc Work Rights Center, cho rằng tình trạng bóc lột lao động thời vụ là phổ biến và mang tính hệ thống, được tạo điều kiện bởi cơ chế thị thực trói người lao động vào chủ sử dụng. Với người có trải nghiệm tốt, chương trình này mở ra cơ hội. Với người gặp chủ sử dụng tồi, sáu tháng ở Anh có thể trở thành giai đoạn đầy bất an.
Từ những trang trại dâu tây ở Kent đến các vườn nho ở Anh, lao động Trung Á trở thành phần không thể thiếu trong nền nông nghiệp hậu Brexit. Một chủ vườn nho ở Kent nói việc giao tiếp với lao động Kazakhstan, Uzbekistan hay Kyrgyzstan đôi khi khó khăn vì ông không giỏi tiếng Nga, phải trực tiếp làm mẫu công việc. Nhưng điều này đã trở thành thực tế mới của nông nghiệp Anh. Khi còn trong EU, lao động có thể đến và đi dễ dàng hơn nhiều. Sau Brexit, nước Anh vẫn cần nhân công nước ngoài, chỉ là phải tìm họ ở xa hơn.
shared via nytimes,



