Vì sao thuế quan chưa đủ để hồi sinh sản xuất Mỹ
06/08/26
Trong vài năm gần đây, Washington ngày càng lo ngại về tác động dài hạn của thương mại và chính sách công nghiệp nước ngoài đối với sức khỏe ngành chế tạo Mỹ. Trong năm 2018–2019, chính quyền Trump đã áp thuế lên hàng trăm tỷ USD hàng nhập khẩu Trung Quốc; năm 2024, chính quyền Biden tiếp tục nâng thuế với một số mặt hàng khác.
Tuy nhiên, thuế quan song phương không đủ giúp phục hồi toàn bộ ngành chế tạo Mỹ. Chừng nào Mỹ còn đóng vai “người tiêu dùng cuối cùng” của thế giới, hấp thụ tới một nửa thặng dư thương mại của phần còn lại, quốc gia này khó đảo ngược suy giảm sản xuất. Dữ liệu Ngân hàng Thế giới cho thấy chế tạo chiếm 16% GDP toàn cầu. Nhưng ở các nền kinh tế phát triển thâm hụt dai dẳng, tỷ trọng này thấp hơn nhiều: Mỹ và Tây Ban Nha là 11%, Pháp 10%, Canada 9%, Anh 8%. Ngược lại, ở các nền kinh tế thặng dư, chế tạo chiếm 18% GDP của Đức và Thụy Sĩ, 21% của Singapore, 26% của Hàn Quốc và 34% của Đài Loan.
Trong các năm 2000, 2010 và 2020, quan hệ này lặp lại trong nhóm 10 nền kinh tế phát triển lớn nhất. Bình quân, tỷ trọng chế tạo ở các nước thặng dư cao hơn mức toàn cầu 3,4 điểm phần trăm; ở các nước thâm hụt thấp hơn 3,5 điểm. Điển hình như ở Nhật Bản. Ở thập niên 1980 và đầu 1990, khi quốc gia này có thặng dư thương mại lớn nhất thế giới, chế tạo chiếm 25–27% GDP. Sau khi bong bóng tài sản vỡ, thặng dư giảm và vai trò chế tạo cũng giảm; vài năm gần đây, khi Nhật chạy thâm hụt thương mại, chế tạo chỉ còn khoảng 19% GDP.
Năng suất, tiền lương và nhu cầu nội địa
Theo lý thuyết thương mại cổ điển, một nước xuất khẩu thành công nhờ lợi thế so sánh: năng suất cao giúp tiền lương tăng, người lao động tiêu dùng tương xứng với sản lượng họ tạo ra, và doanh thu xuất khẩu dùng để nhập những hàng hóa đất nước không có lợi thế. Khi đó thương mại có thể cân bằng.
Tuy nhiên, các nền kinh tế thặng dư dai dẳng vận hành theo cách riêng. Họ xuất khẩu nhiều loại hàng chế tạo và nhập khẩu ít hơn vì nhu cầu nội địa không đủ hấp thụ giá trị sản xuất. Nói cách khác, thặng dư thương mại phản ánh việc tiêu dùng bấn cân xứng. Nguyên nhân thường do người lao động giữ lại tỷ phần thu nhập thấp hơn so với năng suất.
Vì vậy, các chính sách duy trì khả năng cạnh tranh xuất khẩu cũng có vai trò kìm hãm nhu cầu nội địa. Một đồng tiền bị định giá thấp làm hàng xuất khẩu rẻ hơn, nhưng đồng thời khiến hàng nhập khẩu đắt lên. Hộ gia đình (vốn là bên nhập khẩu ròng) bị buộc trợ cấp cho nhà sản xuất xuất khẩu. Điều tương tự có thể đến từ trợ cấp trực tiếp cho doanh nghiệp chế tạo, quyền lao động yếu, tín dụng được quản lý, mạng lưới an sinh mỏng hoặc đầu tư quá mức vào hạ tầng phục vụ doanh nghiệp.
Ở các quốc gia có thặng dư cao, tác động này vẫn rất mạnh mẽ. Vì thương mại toàn cầu phải cân bằng, đối tác của họ chịu hiệu ứng ngược: đồng tiền bị định giá cao hơn, nhà sản xuất phải “trợ cấp” cho người tiêu dùng thông qua hàng nhập khẩu rẻ. Vì thế, sản xuất di chuyển tới nơi được trợ cấp nhiều nhất, còn tiêu dùng di chuyển theo hướng ngược lại.
Ba lựa chọn của Washington
Với Mỹ, có ba cách phản ứng. Thứ nhất là không làm gì. Khi đó, Mỹ vẫn chịu chính sách công nghiệp, tuy nhiên đó là chính sách do nước khác thiết kế, từ Bắc Kinh, Berlin, Tokyo, Seoul, Moscow, Riyadh, Tehran và các trung tâm thặng dư khác. Chính sách công nghiệp của Mỹ sẽ chỉ là mặt trái của chủ nghĩa trọng thương bên ngoài.
Thứ hai, áp dụng chính sách công nghiệp đối ứng nhằm bảo vệ các ngành chiến lược. Cách này có thể giúp một số lĩnh vực quan trọng, nhưng nếu Mỹ vẫn tiếp tục thâm hụt để hấp thụ tiết kiệm dư thừa toàn cầu, toàn bộ ngành chế tạo vẫn yếu. Một số ngành được ưu tiên sẽ phát triển, nhưng phần còn lại của chế tạo Mỹ phải trả giá.
Thứ ba, Mỹ từ bỏ vai trò hấp thụ mất cân bằng thương mại và vốn toàn cầu. Cách này có thể bảo vệ sản xuất nói chung, không chỉ vài ngành chiến lược như xe điện, pin và tấm pin mặt trời, nơi Trung Quốc có lợi thế lớn. Công cụ có thể là thuế quan diện rộng với hàng nhập khẩu, hoặc hiệu quả hơn, hạn chế quyền tiếp cận tự do của vốn nước ngoài vào thị trường tài chính Mỹ. Đó là một dạng kiểm soát vốn. Nhiều quốc gia dùng công cụ này với mục đích tránh tiền tệ bị định giá quá cao, dòng vốn đầu cơ và méo mó tín dụng nội địa. Biện pháp trên cũng từng được Mỹ sử dụng, gần đây nhất vào đầu thập niên 1980. Nếu hạn chế nhà đầu tư nước ngoài mua tài sản Mỹ, các nước kìm chế nhu cầu nội địa để trợ cấp sản xuất khó chuyển chi phí chính sách của họ sang Mỹ thông qua tích lũy tài sản Mỹ nhằm cân bằng thặng dư.
Dưới thời Trump và Biden, thuế quan có thể hỗ trợ vài ngành chiến lược, nhưng không thể tự giải quyết mất cân bằng thương mại nền tảng. Chừng nào Mỹ còn chấp nhận thâm hụt dai dẳng để hấp thụ tiết kiệm dư thừa toàn cầu, quốc gia này phải chấp nhận tỷ trọng chế tạo tiếp tục suy giảm. Muốn hồi sinh sản xuất Mỹ cần thay đổi cấu trúc sâu hơn: tạo các thỏa thuận thương mại mới và loại bỏ mất cân bằng dai dẳng, hoặc đơn phương chấm dứt vai trò của Mỹ trong việc hấp thụ chúng.
shared via phenomenal world,



