Thuế quan của Trump khoác áo mới
04/06/26
![]() |
| Hôm thứ Ba, chính quyền Trump tuyên bố áp thuế từ 10% – 12,5% đối với 59 quốc gia và 27 thành viên của Liên minh châu Âu. Ảnh: Roslan Rahman/Agence France-Presse |
Sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bác bỏ các mức thuế toàn cầu cũ, chính quyền Trump đang tìm nền tảng pháp lý bền hơn để dựng lại bức tường thuế quan. Lần này, lý do được đưa ra là chống hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức – mục tiêu đạo đức khó phản bác nhưng cũng bị nghi là vỏ bọc cho chủ nghĩa bảo hộ.
Con đường mới cho chính sách cũ
Donald Trump chưa bao giờ che giấu niềm tin rằng thuế quan là công cụ trung tâm để tái định hình thương mại Mỹ. Với ông, trật tự thương mại toàn cầu nhiều thập niên qua gây bất lợi cho doanh nghiệp Mỹ, làm mất nhà máy, tăng thâm hụt thương mại và trao quá nhiều lợi thế cho nước ngoài. Tuy nhiên, hồi tháng 2, sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ hệ thống thuế quan toàn cầu mà ông áp đặt, chính quyền Trump buộc phải tìm đường vòng. Đêm thứ Ba, Nhà Trắng công bố một phần kế hoạch mới: áp thuế từ 10% – 12,5% với 59 quốc gia và Liên minh châu Âu với lý do các đối tác này chưa ban hành hoặc thực thi đầy đủ luật ngăn giao thương hàng hóa sản xuất bằng lao động cưỡng bức. Các mức thuế có thể có hiệu lực từ tháng 7 và nhiều khả năng chưa phải đợt cuối. Chính quyền đang chuẩn bị thêm gói thuế khác liên quan đến các thực hành sản xuất nước ngoài. Mục tiêu cuối cùng rất quen thuộc: tái lập bức tường thuế quan giữa kinh tế Mỹ và phần còn lại của thế giới, nhưng lần này trên nền tảng pháp lý khó bị tòa án lật hơn.
Từ “khẩn cấp kinh tế” sang lao động cưỡng bức
Khác với các mức thuế trước đây được áp theo Đạo luật Quyền hạn Kinh tế Khẩn cấp Quốc tế, gói thuế mới dựa trên Điều 301 của Đạo luật Thương mại năm 1974. Đây là công cụ cho phép tổng thống áp thuế để đáp trả các thực hành thương mại bị xem là gây hại cho Mỹ. Trump từng dùng Điều 301 trong nhiệm kỳ đầu để phát động cuộc chiến thương mại với Trung Quốc. Những mức thuế vượt qua nhiều thách thức pháp lý. Vì vậy, giới chuyên gia cho rằng cơ sở mới này bền hơn so với lập luận “tình trạng khẩn cấp” từng bị tòa án bác bỏ. Điểm khác là chưa chính quyền nào dùng Điều 301 theo cách rộng như hiện nay. Thay vì nhắm vào quốc gia hay nhóm hành vi cụ thể, chính quyền Trump dùng vấn đề lao động cưỡng bức để đánh thuế gần như toàn bộ các đối tác thương mại lớn của Mỹ.
Về chính trị, đây là lựa chọn khôn khéo. Chống lao động cưỡng bức là mục tiêu có sức hấp dẫn lưỡng đảng. Đảng Dân chủ, công đoàn và nhiều tổ chức nhân quyền từ lâu cũng ủng hộ siết hàng hóa được sản xuất trong điều kiện bóc lột. Rất khó để bất kỳ chính trị gia nào công khai phản đối yêu cầu các nước phải có luật và thực thi luật chống lao động cưỡng bức. Chính vì vậy, câu hỏi càng trở nên nhạy cảm: đây là chính sách nhân quyền thật sự hay chỉ là chiếc áo đạo đức cho chính sách bảo hộ cũ?
Lý tưởng đạo đức hay cái cớ bảo hộ?
Một số chuyên gia thương mại cho rằng lập luận mới của chính quyền Trump thiếu thuyết phục. Edward Alden, chuyên gia tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại gọi đây là nỗ lực “hoài nghi một cách lộ liễu” nhằm duy trì các mức thuế chính quyền tin là có hiệu quả.
Theo Alden, Điều 301 vốn được Quốc hội thiết kế để buộc các nước thay đổi hành vi gây hại cho thương mại Mỹ. Nếu một nước vi phạm nghiêm trọng, mức thuế nên cao hơn; nếu vi phạm nhẹ, mức thuế nên thấp hơn. Tuy nhiên, gói thuế mới hầu như không cho thấy chính quyền phân tầng thuế theo mức độ vi phạm lao động cưỡng bức. Cuộc điều tra của chính quyền cũng bỏ qua một số nước nhỏ hơn từng bị chính phủ Mỹ xác định có vấn đề nô lệ, buôn người hoặc lao động cưỡng bức, như Afghanistan, Belarus, Myanmar và Mauritania. Trong khi một số nước bị chỉ trích vì nhập gạo từ Myanmar hoặc thuốc lá từ Malawi lại bị nêu tên, Myanmar và Malawi lại không nằm trong danh sách chịu thuế. Sự thiếu nhất quán làm dấy lên nghi ngờ rằng mục tiêu thật không phải là trừng phạt chính xác các vi phạm nhân quyền mà là tìm nền tảng pháp lý đủ rộng để áp thuế lên các đối tác thương mại lớn.
Mỹ có lợi thế pháp lý nhưng cũng có yếu điểm
Mỹ có vị thế đặc biệt trong vấn đề này. Gần một thế kỷ, Mỹ có lệnh cấm với hàng nhập khẩu sản xuất bằng lao động cưỡng bức, lao động tù nhân hoặc lao động ràng buộc. Năm 2021, Mỹ ban hành luật hạn chế hàng nhập khẩu từ Tân Cương, trừ khi doanh nghiệp chứng minh được sản phẩm không liên quan tới lao động cưỡng bức. Nhiệm kỳ đầu, chính quyền Trump thúc đẩy đưa điều khoản cấm hàng hóa làm bằng lao động cưỡng bức vào Hiệp định Mỹ – Mexico – Canada. Các thỏa thuận thương mại gần đây với Argentina, Bangladesh, Campuchia, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Indonesia, Malaysia và Đài Loan cũng có cam kết liên quan.
Tuy vậy, theo các nhà phê bình, chính quyền Trump không phải lúc nào cũng mạnh tay thực thi luật. Thời gian gần đây, Mỹ chỉ ban hành số ít lệnh chặn nhập khẩu đối với các công ty cụ thể bị cáo buộc dùng lao động cưỡng bức. Hai trong số này nhắm vào công ty ở Serbia và Mauritius – nhưng cả hai đều không nằm trong danh sách bị áp thuế theo gói mới. Điều này khiến lập luận đạo đức của Washington bớt chắc chắn. Nếu Mỹ thật sự muốn chống lao động cưỡng bức, cách tiếp cận hợp lý hơn có thể là nhắm trực tiếp vào ngành, công ty hoặc chuỗi cung ứng vi phạm thay vì áp thuế diện rộng.
Thuế quan trong năm bầu cử
Các mức thuế mới xuất hiện đúng lúc nhạy cảm. Cử tri Mỹ bất mãn vì giá cả cao hơn, một phần do chiến tranh với Iran và các chính sách thương mại. Thuế quan có thể giúp Trump chứng minh ông cứng rắn với nước ngoài và bảo vệ công nhân Mỹ, nhưng cũng có nguy cơ làm giá hàng nhập khẩu tăng, đẩy thêm gánh nặng lên người tiêu dùng. Chính quyền dường như chấp nhận rủi ro. Với Trump, thuế quan không chỉ là công cụ kinh tế mà là biểu tượng chính trị: bằng chứng rằng ông đang chống lại hệ thống thương mại mà ông mô tả là bất công với nước Mỹ.
Bên ủng hộ cho rằng nhiều đối tác của Mỹ thực sự chưa có luật đủ mạnh để ngăn hàng hóa làm bằng lao động cưỡng bức. Theo Jason Smith, Chủ tịch Ủy ban Thuế vụ Hạ viện, nhiều nước thậm chí chưa có luật cơ bản để cấm giao thương các sản phẩm như vậy. Với họ, thuế quan là đòn bẩy cần thiết để buộc các chính phủ hành động. Bên phản đối cho rằng chính quyền đang dùng mục tiêu cao đẹp để che giấu chiến lược thuế quan rộng hơn: tăng rào cản thương mại, gây sức ép địa chính trị và thu thêm nguồn thu.
Chủ nghĩa bảo hộ khó bị phản đối
Điểm mới của chính sách Trump không nằm ở tình yêu thuế quan. Điều này quá rõ. Điểm mới là cách chính quyền tìm được căn cứ khó bị phản bác. Không ai muốn bảo vệ lao động cưỡng bức. Không ai muốn bị xem là mềm yếu trước hàng hóa bóc lột. Vì vậy, thuế quan nhân danh nhân quyền có thể bền hơn về pháp lý và chính trị so với thuế quan nhân danh tình trạng khẩn cấp.
Tuy nhiên, sự bền vững này cũng có mặt nguy hiểm. Nếu mọi mục tiêu đạo đức đều có thể trở thành lý do để dựng rào thuế diện rộng, thương mại toàn cầu sẽ bước vào thời kỳ bất định mới: các nước khác có thể đáp trả bằng lý do riêng; chuỗi cung ứng có thể bị chia nhỏ hơn; người tiêu dùng có thể phải trả giá cao hơn. Chống lao động cưỡng bức là mục tiêu đúng, nhưng cách thực hiện sẽ quyết định chính sách này là bước tiến nhân quyền hay chỉ là chủ nghĩa bảo hộ được tái đóng gói.
Trump đang cố dựng lại bức tường thuế quan đã bị tòa án phá bỏ. Lần này, những viên gạch được đặt tên là đạo đức, lao động và nhân quyền. Câu hỏi là bên trong bức tường này, người Mỹ sẽ được bảo vệ tốt hơn hay chỉ phải trả nhiều tiền hơn cho cuộc chiến thương mại cũ.
shared via nytimes,



