Khi thiên nhiên bị biến thành tài sản đầu tư
28/05/26
Tại Yate Fold Farm gần Bolton, vùng Greater Manchester của Anh, thí nghiệm tài chính mới đang diễn ra. Không lâu trước đây, trang trại này chủ yếu sống bằng nghề nuôi bò sữa. Tám mươi con bò gặm cỏ trên vùng đất chất lượng thấp, hai cha con chủ trại thường làm việc tới 70 giờ/tuần. Giờ đây, nơi này đã trở thành một trong 25 “ngân hàng sinh cảnh” do công ty quản lý tài sản Gresham House phát triển.
Mô hình này xuất hiện sau Đạo luật Môi trường năm 2021 của Anh. Luật yêu cầu các nhà phát triển bất động sản phải chứng minh dự án cải thiện đa dạng sinh học của khu đất xây dựng ít nhất 10%. Quy định này gọi là lợi ích ròng về đa dạng sinh học. Nhưng thay vì phục hồi thiên nhiên ngay tại công trường, doanh nghiệp có thể mua đơn vị đa dạng sinh học từ những khu đất khác để đáp ứng nghĩa vụ pháp lý.
Đây là vai trò của ngân hàng sinh cảnh. Environment Bank, công ty thuộc danh mục Quỹ Hạ tầng Bền vững Anh của Gresham House, thuê những vùng đất nông nghiệp năng suất thấp trong 30 năm để phục hồi thành rừng, vùng đất ngập nước hoặc sinh cảnh tự nhiên khác. Các nhà sinh thái học đến từng địa điểm để tư vấn cho chủ đất cách quản lý quá trình phục hồi. Tại Yate Fold Farm, giống bò mới sẽ được đưa tới để chăn thả theo hướng bền vững, vừa phục vụ bảo tồn, vừa giúp chủ trang trại bán thịt bò với giá cao hơn.
Những doanh nghiệp như Aldi, Everton Football Club hay National Grid có thể mua đơn vị đa dạng sinh học từ Environment Bank để đáp ứng yêu cầu khi xin phép xây dựng. Khi hệ sinh thái tại ngân hàng sinh cảnh cải thiện, số đơn vị đa dạng sinh học của khu đất tăng lên, Environment Bank có thể bán nhiều hơn, giá trị “tài sản đa dạng sinh học” mà Gresham House sở hữu cũng tăng theo.
Nhìn qua, đây là mô hình có lợi cho nhiều bên. Nhà phát triển giảm khó khăn khi xin phép. Chủ đất có nguồn thu mới. Nhà đầu tư có tài sản mới. Thiên nhiên có cơ hội hồi phục. Nhưng mọi chuyện không đơn giản như vậy. Nỗ lực biến thiên nhiên thành tài sản “có thể đầu tư” nhiều khả năng còn khó thành công hơn cả việc tài chính hóa quá trình khử carbon trong năng lượng và giao thông.
Chuyển đổi xanh dưới logic “hấp dẫn vốn”
Các ngân hàng sinh cảnh là một phần của xu hướng rộng hơn trong chính sách khí hậu và môi trường hiện nay. Từ khóa trung tâm của xu hướng này là khả năng hấp dẫn vốn đầu tư. Dự án hay chính sách được đánh giá trước hết bằng câu hỏi liệu nó có thu hút được tài chính tư nhân không?
Để làm được điều này, chính phủ, ngân hàng phát triển và các định chế công sử dụng nhiều công cụ nhằm giảm rủi ro cho thị trường tài chính. Các công cụ này có thể là trợ cấp công, bảo lãnh vay, tín dụng thuế, ưu đãi tài khóa hoặc quy định tạo điều kiện thị trường ổn định hơn. Mục tiêu là dẫn vốn tư nhân vào các lớp tài sản đã được nhà nước giảm rủi ro.
Cách tiếp cận này kế thừa các mô hình quản trị dựa trên thị trường, vốn cho rằng nếu thiệt hại môi trường trong tương lai được tính vào quyết định kinh tế, doanh nghiệp và nhà đầu tư sẽ hành xử ít gây hại hơn. Nhưng hiện nay, vấn đề không chỉ là làm cho lựa chọn xanh rẻ hơn. Nhà đầu tư muốn biết dự án có sinh lời hấp dẫn hơn các cơ hội khác hay không. Nhà nước vì thế không chỉ “sửa lỗi thị trường”, họ tích cực tạo ra thị trường mới và bảo đảm điều kiện sinh lời cho vốn tư nhân.
Trong năng lượng tái tạo, mô hình giảm rủi ro thu về một số thành công. Nhiều dự án điện gió, điện mặt trời hay hạ tầng pin thu hút được vốn tư nhân nhờ hỗ trợ của nhà nước. Nhưng ngay cả ở lĩnh vực dễ sinh lời hơn này, quy mô đầu tư vẫn chưa đủ để đáp ứng mục tiêu khí hậu. Nhiều dự án không thu hút được nhà đầu tư nếu thiếu trợ cấp trực tiếp.
Khoảng trống tài chính xanh
Khoảng cách tài chính để đạt phát thải ròng bằng 0 vẫn rất lớn. Năm 2022, Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu kết luận rằng mức đầu tư cần thiết để giới hạn nóng lên toàn cầu dưới 1,5°C vào năm 2050 cao gấp 3–6 lần mức hiện tại. Climate Policy Initiative ước tính giai đoạn 2023–2030 thế giới cần 6.200 tỷ USD/năm và 7.300 tỷ USD/năm vào năm 2050 để đạt mục tiêu này, với tổng nhu cầu gần 200.000 tỷ USD.
Trong khi đó, năm 2022 tổng tài chính khí hậu mới lần đầu vượt 1.000 tỷ USD. Dòng tiền cũng phân bổ rất lệch. Năm 2021–2022, khu vực tư nhân dồn phần lớn tài chính giảm phát thải vào năng lượng và giao thông, lần lượt chiếm 44% và 29% tổng toàn cầu. Ngược lại, nông nghiệp và công nghiệp, dù có tiềm năng giảm phát thải rất lớn, chỉ nhận dưới 4%. Các hoạt động thích ứng khí hậu hoặc có lợi ích kép, trong đó có trồng rừng bản địa, chỉ nhận khoảng 114 tỷ USD. Khu vực tư nhân đóng góp vỏn vẹn 2% tài chính thích ứng được theo dõi.
Trong lĩnh vực đa dạng sinh học, tình hình còn khó hơn. Bảo tồn đòi hỏi chăm sóc lâu dài, quy mô nhỏ, kiên nhẫn và kết quả không chắc chắn. Trong khi đó, vốn tài chính lại muốn lợi nhuận rõ ràng, ngắn hạn, có thể đo lường và mở rộng. Chính sự lệch pha này khiến các mô hình như ngân hàng sinh cảnh khó trở thành lời giải trung tâm cho khủng hoảng đa dạng sinh học.
Vì sao thiên nhiên khó thành tài sản tài chính?
Khác với điện gió hay điện mặt trời, nhiều dự án phục hồi thiên nhiên không tạo ra hàng hóa rõ ràng ở cuối chuỗi đầu tư. Điện tái tạo cuối cùng vẫn bán điện. Xe điện vẫn bán phương tiện. Nhưng ngân hàng sinh cảnh tạo ra các đơn vị đa dạng sinh học, loại giá trị phụ thuộc gần như hoàn toàn vào hệ thống luật lệ và cách đo lường của nhà nước.
Nếu quy định thay đổi, phương pháp tính đa dạng sinh học thay đổi hoặc xã hội phản đối việc định giá thiên nhiên theo kiểu tín chỉ, giá trị của tài sản này có thể bị đảo lộn. Ngoài ra, phục hồi hệ sinh thái chứa đầy bất định. Không ai có thể biết chắc mảnh đất sẽ phản ứng thế nào trước nỗ lực tái hoang dã, nhất là khi thời tiết, nhiệt độ, mô hình di cư của các loài và sự biến đổi của hệ sinh thái đều thay đổi.
Khác biệt nữa là phục hồi thiên nhiên thường phải thay thế các hoạt động kinh tế đang diễn ra trên cùng không gian đất đai. Trang trại, rừng trồng thương mại hay vùng khai thác không thể vừa tiếp tục vận hành như cũ, vừa được phục hồi hoàn toàn. Với nông nghiệp, rừng bản địa hoặc phục hồi đất, chuyển đổi thường va chạm trực tiếp hơn với các lợi ích kinh tế đang tồn tại.
Những lĩnh vực khó gọi vốn phơi bày giới hạn của mô hình hiện tại
Muốn hiểu giới hạn của mô hình tài chính hóa chuyển đổi xanh, cần nhìn sang những lĩnh vực khó thu hút vốn hơn, như nông nghiệp thay thế, rừng bản địa, phục hồi sinh thái và thích ứng khí hậu. Đây là các lĩnh vực có vai trò sống còn với hành tinh, nhưng thường bị bỏ qua vì khó biến thành tài sản sinh lời.
Ở một số nước, chính phủ đầu tư mạnh vào những lĩnh vực dễ hấp dẫn vốn, như hydro xanh, bằng cách xây dựng đội ngũ chuyên trách, cơ quan điều phối và năng lực quản lý dự án. Nhưng với các lĩnh vực quan trọng không kém, như trồng rừng bản địa ở Chile hay nông nghiệp thay thế ở Đan Mạch, tiến triển chậm hơn nhiều. Nhà nước phát triển năng lực ở nơi có thể giúp dự án trở nên “đầu tư được”, thay vì nơi có đóng góp lớn nhất cho trung hòa carbon.
Điều này tạo ra rủi ro dài hạn. Năng lực nhà nước hình thành hôm nay sẽ quyết định khả năng hành động trong tương lai. Nếu dự án chỉ được ưu tiên khi có thể sinh lời cho nhà đầu tư, nhiều lĩnh vực quan trọng nhất với khí hậu và đa dạng sinh học sẽ tiếp tục bị bỏ lại.
Câu hỏi là làm sao biến thiên nhiên thành tài sản đầu tư, nhà nước và xã hội cần nguồn lực nào để phục hồi đất đai, rừng, nông nghiệp và hệ sinh thái ở quy mô cần thiết.
shared via phenomenalworld,


