Giỏ hàng

Dầu Mỹ khó giành thị phần từ vùng Vịnh

Các nhà sản xuất dầu nhỏ của Mỹ bắt đầu khoan thêm nhiều giếng, nhưng các công ty lớn như Exxon Mobil và Chevron cho biết sẽ không thay đổi kế hoạch do cuộc chiến với Iran. Ảnh: Arathy Somasekhar

Sản lượng tăng, nhưng không bứt phá
 
Chiến tranh với Iran kéo ngành dầu mỏ Mỹ khỏi giai đoạn trầm lắng. Giá cao hơn giúp lợi nhuận doanh nghiệp cải thiện và thúc đẩy một số công ty khoan thêm giếng. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, trong năm tới, sản lượng dầu của Mỹ được dự báo tăng nhẹ, lần đầu vượt 14 triệu thùng/ngày. Trước đó, cơ quan này từng dự báo sản lượng sẽ giảm.
 
Tuy vậy, cuộc chiến hiện tạm lắng nhờ thỏa thuận sơ bộ khó có thể giúp Mỹ giành thị phần đáng kể từ các nước vùng Vịnh Ba Tư, vốn bị ảnh hưởng bởi xung đột. Lý do nằm ở chính cấu trúc ngành dầu Mỹ. Đây là ngành lớn nhất thế giới, nhưng hiện bị chi phối bởi các tập đoàn khổng lồ. Các cổ đông muốn lợi nhuận ổn định, không muốn quay lại chu kỳ bùng nổ rồi sụp đổ từng quen thuộc với dầu khí.
 
Đồng thời, nhiều lãnh đạo lo lắng số địa điểm có thể khoan giếng mới với lợi nhuận hấp dẫn đang cạn dần. Trong năm ngoái, giá dầu rất thấp khiến các công ty cắt giảm nhân sự và thiết bị, khiến năng lực tăng tốc trở lại bị hạn chế. J. David Anderson, nhà phân tích của Barclays, nói: “Tôi hoài nghi Mỹ thực sự có phương tiện hoặc quyết tâm giành thị phần”. Theo ông, câu hỏi là: các công ty có thể tăng trưởng không, và nhà đầu tư có muốn họ tăng trưởng không?
 
Khí đốt là câu chuyện sáng hơn
 
Với khí tự nhiên, tình hình khác hơn. Khí đốt được dùng phát điện và sưởi ấm, và xuất khẩu khí của Mỹ hiện tăng nhanh. Trong khi đó, Qatar, nhà sản xuất lớn, đối mặt với nhiều năm sửa chữa tốn kém sau khi cơ sở hạ tầng bị hư hại trong chiến tranh. Sau khi Iran cho thấy việc bóp nghẹt vận tải trong khu vực dễ dàng đến mức nào, người mua tỏ ra thận trọng hơn với việc phụ thuộc quá nhiều vào năng lượng từ Vịnh Ba Tư.
 
Dù vậy, dự báo khủng hoảng năng lượng luôn khó. Câu hỏi lớn là liệu giá cao và thiếu hụt có khiến nhu cầu dầu khí giảm vĩnh viễn hay không. Dữ liệu vài năm tới có thể nhiễu, khi các nước tái xây dựng hoặc lập thêm kho dự trữ nhiên liệu.
 
Tháng này, cơ quan Năng lượng Quốc tế dự báo nhu cầu dầu toàn cầu năm 2027 chỉ cao hơn khoảng 1% so với năm 2025, mức tăng “thấp hơn nhiều so với tốc độ trung bình dài hạn”. Kaes Van’t Hof, CEO Diamondback Energy ở Midland, Texas, nhận định câu hỏi then chốt là phần nhu cầu suy yếu trong vài tháng qua có phục hồi hoàn toàn hay không: bao nhiêu do nhà máy hóa dầu tạm dừng, bao nhiêu do người tiêu dùng bớt lái xe hoặc chuyển khỏi xe xăng.
 
Diamondback là một trong số ít công ty dầu lớn của Mỹ tăng khoan nhờ giá thời chiến. Các đối thủ lớn hơn như Exxon Mobil và Chevron chưa đổi kế hoạch.
 
Dầu đá phiến không còn phản ứng nhanh
 
Theo Baker Hughes, từ khi chiến tranh bắt đầu, tại Mỹ, các công ty đã đưa thêm khoảng 10 giàn khoan mới vào hoạt động, phần lớn là các doanh nghiệp nhỏ, vốn phản ứng nhanh hơn với biến động giá nhưng sản lượng không lớn.
 
Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ, hoạt động mới này chưa chuyển thành sản lượng cao hơn. Sản lượng dầu Mỹ gần như không đổi so với mức trước chiến tranh, khoảng 13,7 triệu thùng/ngày, tương đương 16% sản lượng toàn cầu. Trước chiến tranh, các nước vùng Vịnh khai thác khoảng 32% dầu thế giới, chỉ tính dầu thô, không gồm nhiên liệu liên quan như propane và ethane.
 
Khoảng trống dành cho phần còn lại của thế giới phụ thuộc vào tốc độ các nước vùng Vịnh khôi phục sản lượng khi tàu thuyền qua eo biển Hormuz bình thường trở lại. Ả rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE) được kỳ vọng phục hồi tương đối nhanh. Iraq, nơi mỏ dầu và thiết bị nhìn chung kém hơn, có thể khó khăn hơn.
 
Sam Sledge, CEO ProPetro, công ty dịch vụ ở Tây Texas chuyên về thủy lực cắt phá đá, nói: “Khả năng chúng tôi giành thị phần có lẽ phụ thuộc nhiều vào khả năng phần còn lại của thế giới phục hồi sau chiến tranh”. Trước chiến tranh, vì giá dầu thấp, ông cho rằng các công ty Mỹ không thể nhanh chóng tăng sản lượng: “không có đủ thiết bị hay con người.”
 
Cơ hội lớn, rủi ro nhỏ
 
Các công ty dầu khí thường quyết định đầu tư dựa trên giá dầu trong sáu tháng hoặc xa hơn, vì đó là lúc giếng mới bắt đầu cho sản lượng. Tháng 12, giá chuẩn dầu Mỹ giao động khoảng 72 USD/thùng, chỉ tăng nhẹ so với trước chiến tranh.
 
Wil VanLoh, nhà sáng lập kiêm CEO Quantum Capital Group ở Houston, nói: “Đó chính là lý do các nhà sản xuất dầu đá phiến Mỹ, dù có thể tăng sản lượng, lại chọn không làm.”
 
Trong khi Mỹ thận trọng, những quốc gia khác có thể hưởng lợi. Ngay trong vùng Vịnh, UAE rời OPEC, một phần để có thêm tự do tăng sản lượng. Một số nước Nam Mỹ, như Guyana, cũng mở rộng nhanh.
 
Vì vậy, dù chiến tranh với Iran giúp dầu Mỹ thoát khỏi giai đoạn yếu, điều đó không có nghĩa Mỹ sẽ chiếm được thị phần lớn từ vùng Vịnh. Ngành dầu Mỹ hiện ưu tiên kỷ luật vốn, lợi nhuận ổn định và khả năng thực thi hơn là tăng trưởng bằng mọi giá. Cơ hội có thể lớn, nhưng khẩu vị rủi ro của các nhà sản xuất Mỹ đã nhỏ hơn trước.
 
shared via nytimes, 

Bình luận

This site is protected by reCAPTCHA and the Google Privacy Policy and Terms of Service apply.
Bình luận của bạn sẽ được duyệt trước khi đăng lên