Quốc gia nào phụ thuộc nhiều nhất vào dầu khí Vùng Vịnh Ba Tư?
26/03/26
![]() |
| Lưu ý: Chỉ hiển thị các quốc gia nhập khẩu năng lượng từ các nước vùng Vịnh. |
Cuộc chiến tại Trung Đông làm tê liệt phần lớn hoạt động thương mại dầu khí từ khu vực này, buộc nhiều quốc gia cách đó hàng nghìn km phải đối mặt với cú sốc năng lượng bất ngờ: nguồn cung thiết yếu bỗng chốc biến mất.
Vịnh Ba Tư hiện đáp ứng khoảng 1/5 nhu cầu năng lượng của thế giới. Trên thực tế, khi Iran chặn các chuyến hàng đi qua khu vực, giá dầu và khí đốt quốc tế lập tức tăng mạnh. Hệ quả lan rất nhanh: từ Los Angeles đến Lahore, xăng, nhiên liệu hàng không và hàng loạt sản phẩm đầu vào khác cùng tăng giá, gây áp lực lên người tiêu dùng, doanh nghiệp vận tải, hãng hàng không, nhà sản xuất và cả ngân sách chính phủ. Nhưng trong cơn chấn động đó, mức độ tổn thương không hề giống nhau: có những nền kinh tế cảm nhận cú sốc này sâu sắc hơn nhiều so với phần còn lại của thế giới.
Đây không chỉ là câu chuyện về dầu thô. Đây là cú sốc đồng thời lên chi phí logistics, giá nguyên liệu, lạm phát, lãi suất, trợ giá ngân sách và cuối cùng là sức mua của thị trường.
Châu Á – Khách hàng lớn nhất của năng lượng Vùng Vịnh
Năm 2024, mỗi ngày, gần 21 triệu thùng dầu đi qua eo biển Hormuz, tuyến hàng hải hẹp nối Vịnh Ba Tư với phần còn lại của thế giới. Khoảng 4/5 lượng dầu đó chảy sang châu Á.
Trung Quốc từ lâu luôn là khách hàng lớn nhất của dầu và khí đốt từ các quốc gia vùng Vịnh. Hơn 1/3 tổng nguồn cung năng lượng của quốc gia này đến từ khu vực đó, nên bất kỳ gián đoạn nào cũng là vấn đề nghiêm trọng với Bắc Kinh. Tuy nhiên, Trung Quốc chưa phải trường hợp dễ tổn thương nhất. Một số quốc gia khác gần như sống dựa vào nguồn năng lượng từ vùng Vịnh.
Pakistan phải cân nhắc áp dụng tuần làm việc 4 ngày, đồng thời thúc đẩy học tập và làm việc từ xa để tiết kiệm dự trữ năng lượng. Tại Thái Lan, ngay trong tháng này, quỹ nhà nước dùng để trợ giá nhiên liệu mỗi khi giá tăng vọt rơi vào thâm hụt.
Ấn Độ cũng ở trong thế khó. Nền kinh tế phụ thuộc vào Trung Đông cho khoảng 40% lượng dầu nhập khẩu và 80% lượng khí đốt. Khi nguồn cung bị thắt chặt, khí đốt nấu ăn trở nên khan hiếm, gây sức ép trực tiếp lên chi tiêu hộ gia đình. Trên quy mô rộng hơn, nhiều hãng hàng không khắp châu Á đã phải hủy hàng nghìn chuyến bay vì thiếu nhiên liệu.
Tín hiệu rất rõ: châu Á không chỉ là trung tâm sản xuất của thế giới mà còn là khu vực hấp thụ mạnh nhất rủi ro năng lượng từ Vùng Vịnh. Khi chi phí năng lượng tại châu Á tăng lên, hệ quả phản chiếu vào mọi chuỗi cung ứng toàn cầu: từ giá cước, giá linh kiện, chi phí hóa chất đến giá thành hàng tiêu dùng.
Châu Âu đỡ phụ thuộc hơn, nhưng không miễn nhiễm
So với châu Á, châu Âu từ lâu ít phụ thuộc hơn vào năng lượng từ Vùng Vịnh. Trước đây, khu vực này chủ yếu lấy khí đốt từ Nga, vài năm gần đây mới chuyển trọng tâm sang Mỹ và Na Uy. Dù vậy, châu Âu phải sống chung với rất nhiều cuộc khủng hoảng năng lượng, từ chiến tranh Nga – Ukraine đến các lệnh trừng phạt của phương Tây.
Nga hiện là nhà sản xuất dầu lớn thứ 3 và nhà sản xuất khí đốt lớn thứ 2 thế giới. Nhưng doanh thu từ năng lượng của quốc gia này bị bóp nghẹt đáng kể khi Moscow tiếp tục chiến dịch quân sự ở Ukraine.
Điều khiến cú sốc lần này đặc biệt đáng lo với châu Âu là nó xảy ra đúng lúc nhiều nền kinh tế trong khu vực đang tăng trưởng ì ạch, trong khi các chính phủ lại muốn tái thiết năng lực công nghiệp và chống đỡ áp lực cạnh tranh từ hàng xuất khẩu Trung Quốc.
Nói cách khác, châu Âu bước vào cuộc khủng hoảng mới với sức chống chịu mong manh. Doanh nghiệp công nghiệp vốn vật lộn với biên lợi nhuận thấp, chi phí tài chính cao và nhu cầu yếu, giờ phải đối mặt thêm biến số rất khó kiểm soát: năng lượng.
Sau khi xung đột Israel – Iran khiến giá cả leo thang, Mỹ tạm thời nới lỏng trừng phạt đối với dầu Nga đang ở ngoài khơi, với hy vọng làm dịu nguồn cung toàn cầu và hạ nhiệt thị trường. Liên minh châu Âu chưa đi theo hướng đó.
Chi tiết đáng chú ý: trong khủng hoảng năng lượng, chính sách địa chính trị có thể thay đổi nhanh hơn nhiều so với các mô hình dự báo truyền thống. Những giả định từng là “bất di bất dịch” về trừng phạt, nguồn cung hay dòng chảy thương mại có thể bị điều chỉnh chỉ trong vài tuần nếu áp lực lạm phát đủ lớn.
Một phần châu Phi sẽ chịu đòn rất mạnh
Tác động tại châu Phi không đồng đều. Cũng như nhiều quốc gia thuộc Nam bán cầu, mức độ tổn thương phụ thuộc vào cấu trúc nhập khẩu của từng nước.
Trong năm 2024, Seychelles – quốc đảo ngoài khơi phía đông châu Phi, đã nhập gần như toàn bộ năng lượng từ các nước vùng Vịnh. Mauritius cũng có mức lệ thuộc tương tự. Trong khi đó, Nigeria dù giàu dầu mỏ và là thành viên của liên minh OPEC+ từ lâu chỉ nhập tương đối ít nhiên liệu hóa thạch từ Trung Đông.
Mỹ không thể đứng ngoài
Mỹ hiện là nhà sản xuất dầu và khí đốt lớn nhất thế giới. Điều đó khiến cú sốc từ việc gián đoạn thương mại năng lượng Trung Đông ít nghiêm trọng hơn so với phần lớn các nền kinh tế khác. Nhưng “ít nghiêm trọng hơn” không có nghĩa là vô hại.
Ngay cả Mỹ và những nước không nhập quá nhiều từ Vùng Vịnh vẫn đang cảm nhận rất rõ áp lực kinh tế. Trong những tuần gần đây, giá dầu đã vượt 100 USD/thùng và kéo theo nhiều biến số vĩ mô khác.
Từ khi chiến sự bắt đầu, giá xăng tại Mỹ đã tăng khoảng 1 USD/gallon trên toàn quốc. Các hãng hàng không Mỹ bắt đầu cắt giảm chuyến bay vì chi phí nhiên liệu. Nỗi lo lạm phát quay trở lại đẩy lãi suất vay mua nhà lên mức cao nhất trong 3 tháng, chỉ vài tuần sau khi lần đầu giảm xuống dưới 6% kể từ năm 2022.
Đó là lý do Nhà Trắng liên tục nhấn mạnh Mỹ không cần dầu Trung Đông, đồng thời sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự để ngăn Iran phong tỏa tuyến vận chuyển này.
shared via nytimes,



