Vì sao châu Âu nên dựng rào cản với hàng Trung Quốc
08/06/26
Rào cản thương mại thường là công cụ kinh tế nhiều rủi ro. Thuế quan diện rộng, như cách Tổng thống Donald Trump từng sử dụng, có thể làm hại chính ngành sản xuất trong nước: hàng trung gian đắt hơn, doanh nghiệp mất quy mô và nền kinh tế thêm méo mó. Nhưng không phải tất cả biện pháp bảo hộ đều giống nhau. Khi được nhắm vào các ngành chiến lược, nhất là trước làn sóng hàng nhập khẩu giá thấp từ đối thủ địa chính trị, thuế quan và rào cản phi thuế quan có thể trở thành công cụ cần thiết.
Châu Âu đang ở trong tình huống đó. Lục địa này nên dựng rào cản cao hơn đối với hàng công nghiệp công nghệ cao của Trung Quốc. Lý do trực tiếp là bảo vệ ngành công nghiệp quốc phòng hiện đại non trẻ của châu Âu và rộng hơn là quan hệ thương mại Trung Quốc–châu Âu hiện không vận hành như hệ thống trao đổi cân bằng. Trung Quốc không chỉ muốn bán nhiều hơn; Bắc Kinh muốn chiếm lĩnh mắt xích sản xuất then chốt, buộc phần còn lại của thế giới phải phụ thuộc.
Trong vài năm qua, chính phủ Trung Quốc tung ra dòng trợ cấp chưa từng có cho các ngành sản xuất công nghệ cao. Nhờ đó, cùng với các đặc điểm cấu trúc của nền kinh tế, doanh nghiệp Trung Quốc giành thị phần toàn cầu trong ô tô, dược phẩm, đóng tàu và nhiều ngành khác. OECD ước tính hơn nửa mức tăng thị phần của Trung Quốc đến từ hỗ trợ nhà nước. Dữ liệu của tổ chức này, bao gồm 525 tập đoàn sản xuất lớn nhất thế giới ở 15 ngành công nghiệp then chốt, cho thấy doanh nghiệp đặt tại Trung Quốc nhận trợ cấp cao gấp ba đến tám lần đối thủ nước ngoài. Với doanh nghiệp Trung Quốc, khoảng 60% mức tăng thị phần có được nhờ trợ cấp.
“Chính sách công nghiệp cho tất cả”
Rhodium Group gọi chiến lược mới của Bắc Kinh là “chính sách công nghiệp cho tất cả”. Không chỉ chọn vài ngành phát triển, Trung Quốc muốn thống trị toàn bộ hệ thống sản xuất: từ đầu vào thượng nguồn, thiết bị công nghiệp, ứng dụng hạ nguồn, dịch vụ đến công nghệ tiền tuyến. Nếu Made in China 2025 tập trung vào một số ngành chiến lược mới nổi, chính sách hiện nay mở rộng sang cả ngành trưởng thành, các nút trọng yếu trong chuỗi cung ứng và công nghệ tương lai.
Ngay cả trong các ngành dư công suất và chịu áp lực giá lớn, Bắc Kinh vẫn tiếp tục bơm hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp nâng cấp công nghệ, giành thị phần và hạ chi phí, thay vì cắt giảm sản lượng; cho thấy Trung Quốc không muốn chỉ tham gia hệ thống thương mại nơi trao đổi bằng hàng hóa, Bắc Kinh muốn sản xuất tất cả mọi thứ, còn các nước khác thanh toán bằng nợ.
Có hai động cơ phía sau. Thứ nhất là trọng thương: Trung Quốc cố xuất khẩu nhằm bù đắp cú sốc từ khủng hoảng bất động sản. Thứ hai là quyền lực: Nếu kiểm soát các mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, Trung Quốc có thể dùng đe dọa kiểm soát xuất khẩu và gây sức ép.
Mỹ đáp trả bằng thuế quan. Công cụ này có hiệu quả hạn chế, nhưng không hoàn toàn vô dụng. Dù tính cả hàng trung gian Trung Quốc đi vào Mỹ qua nước thứ ba, tỷ trọng của Trung Quốc trong nhập khẩu vào Mỹ vẫn giảm nhẹ so với năm 2021, hoặc so với năm 2017. Câu hỏi hiện nay là châu Âu sẽ làm gì.
Ở Đức, quan điểm đặc biệt có ảnh hưởng là châu Âu nên để Trung Quốc sản xuất mọi vật thể hữu hình, còn bản thân tập trung vào dịch vụ. Lập luận này nhận định Trung Quốc có “lợi thế so sánh” trong chính sách công nghiệp, nên cạnh tranh với họ trong sản xuất là vô vọng. Nhưng đó là cách hiểu sai. Lợi thế so sánh nói về hàng hóa được trao đổi, không phải về chính sách công nghiệp. Chính sách công nghiệp là đầu vào sản xuất, không phải mặt hàng được mua bán.
Ngay cả nếu một quốc gia giỏi hơn trong tất cả ngành, nước đó vẫn không thể có lợi thế so sánh trong mọi thứ. Hơn nữa, lý thuyết lợi thế so sánh giả định thương mại cân bằng. Thặng dư thương mại khổng lồ của Trung Quốc cho thấy thực tế: nhiều trường hợp, Trung Quốc không đổi hàng hóa lấy hàng hóa, Bắc Kinh đổi hàng hóa lấy giấy ghi nợ. Vì vậy, ý tưởng “phương Tây đổi mới, Trung Quốc sản xuất” lỗi thời và rất nguy hiểm. Trung Quốc cũng có chính sách công nghiệp cho đổi mới, thậm chí trở thành trọng tâm trong chiến lược phát triển.
Điểm yếu quốc phòng của châu Âu
Không nằm ở lý thuyết thương mại, lý do mạnh nhất khiến châu Âu dựng rào cản nằm ở an ninh. Trung Quốc, quốc gia được một số người muốn giao vai trò sản xuất hầu hết hàng hóa, đang hỗ trợ Nga trong cuộc chiến chống Ukraine. Bắc Kinh huấn luyện binh sĩ Nga, cung cấp tình báo chiến trường, hỗ trợ nhà sản xuất quốc phòng Nga, tham gia vào sản xuất quốc phòng cho Nga, đồng thời mua dầu Nga nhằm giữ nền kinh tế Nga đứng vững.
Nếu kịch bản xung đột giữa Nga và Liên minh châu Âu xảy ra, châu Âu cần sản xuất drone với số lượng lớn. Chiến tranh hiện đại cho thấy các quân đội không xoay quanh drone quy mô lớn dần trở nên lỗi thời. Trong các cuộc diễn tập chiến tranh của NATO với những đơn vị Ukraine được trang bị drone, phía Ukraine dễ dàng thắng thế.
Nhưng cả châu Âu lẫn Ukraine hiện chưa thể tự sản xuất drone nếu không dựa vào công nghiệp Trung Quốc. Nhiều linh kiện và vật liệu then chốt nằm trong tay Trung Quốc: module vô tuyến, pin lithium-ion, động cơ điện, camera định vị, thậm chí khung carbon. Châu Âu không thể sản xuất, hoặc ít nhất không thể sản xuất đủ.
Nếu Trung Quốc ngừng xuất khẩu linh kiện drone, châu Âu có thể rơi vào thế tuyệt vọng. Trừ khi lục địa này xây dựng được các ngành thượng nguồn cho drone. Đây là mặt trái của tự do thương mại bị những người kêu gọi châu Âu rút khỏi sản xuất bỏ qua. Phụ thuộc vào Trung Quốc trong đầu vào quốc phòng đặt châu Âu dưới quyền định đoạt của Bắc Kinh.
Vì vậy, rào cản với một số hàng trung gian nhập khẩu có thể gây giảm hiệu quả kinh tế, nhưng cần thiết cho quốc phòng. Khi chủ quyền bị đe dọa, tổn thất hiệu quả không còn là thước đo quan trọng nhất.
Mô hình Trung Quốc gây hại cho người Trung Quốc
Những người lo ngại chi phí kinh tế của rào cản thương mại có thể nhìn vấn đề theo hướng khác. Chặn bớt hàng Trung Quốc giúp châu Âu giảm rủi ro an ninh; đồng thời có thể tạo áp lực buộc Bắc Kinh điều chỉnh mô hình kinh tế không phục vụ tốt người dân Trung Quốc.
Dù đạt nhiều thành tựu công nghệ, làn sóng chính sách công nghiệp khổng lồ của Trung Quốc không đem lại nhiều lợi ích cho dân thường. Bất động sản, ngành từng tạo ra nhu cầu lao động và tài sản lớn, vẫn chìm trong suy thoái và có thể còn xấu hơn. Khủng hoảng địa ốc kéo giảm tổng cầu: đầu tư tài sản cố định co lại, doanh số bán lẻ đi ngang.
“Chính sách công nghiệp cho tất cả” lẽ ra phải lấp khoảng trống bất động sản, nhưng chưa làm được. Vì tăng trưởng sản xuất chủ yếu phục vụ xuất khẩu, người tiêu dùng Trung Quốc không được hưởng nhiều thành quả. Tiêu thụ xe cơ giới trong nước vẫn thấp hơn mức một thập niên trước, dù xuất khẩu xe tăng mạnh. Tình trạng tiêu dùng yếu xuất hiện từ thời đại dịch và kéo dài đến nay.
Mô hình này thường được miêu tả ưu ái nhà sản xuất hơn người tiêu dùng. Nhưng nhiều khi, ngay cả nhà sản xuất cũng không thắng. Trợ cấp khiến nhiều doanh nghiệp cùng lao vào sản xuất loại hàng duy nhất, cạnh tranh tới mức lợi nhuận gần bằng 0, trong khi vẫn đẩy đối thủ nước ngoài ra khỏi thị trường. Ngành năng lượng mặt trời là ví dụ rõ nhất. Xuất khẩu tấm pin mặt trời Trung Quốc tăng, nhưng sau nhiều thập niên, nhu cầu nội địa lần đầu giảm vì lưới điện quá tải. Nguồn cung lại dư thừa sau nhiều năm đầu tư ồ ạt. Từ năm 2024, phần lớn công ty trong ngành thua lỗ vì chiến tranh giá; phá sản gia tăng.
Ngành ô tô điện cũng tương tự. Dù Trung Quốc vươn lên mạnh mẽ, các hãng xe mắc kẹt trong cuộc chiến giá khốc liệt. Nỗ lực của Bắc Kinh nhằm hạ nhiệt cạnh tranh không hiệu quả khi BYD và các đối thủ tiếp tục tăng chiết khấu nhằm giữ thị phần trong thị trường ô tô lớn nhất thế giới. Trong tháng 3, mức giảm giá trung bình với xe BYD tăng lên 10%, trong khi đối thủ cũng nâng chiết khấu.
Chính sách công nghiệp của Trung Quốc dần đạt mục tiêu quyền lực quốc gia: công nghệ tiến lên, doanh nghiệp giành thị phần toàn cầu, Bắc Kinh kiểm soát nhiều điểm nghẽn chiến lược. Nhưng người lao động, người tiết kiệm, nhà đầu tư và cả doanh nhân Trung Quốc không được hưởng lợi tương xứng từ sự thống trị ấy.
Tín hiệu chiến lược cho Bắc Kinh
Rào cản thương mại của châu Âu có thể buộc Trung Quốc tính toán lại. Nếu Tập Cận Bình và cộng sự nhận ra không thể cưỡng ép phương Tây phi công nghiệp hóa thông qua trợ cấp vô hạn cho xuất khẩu, phép tính chi phí–lợi ích có thể thay đổi. Khi đó, nâng mức sống của người dân Trung Quốc có thể trở lại thành mục tiêu trung tâm của chính sách, như dưới thời Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào.
Vì vậy, châu Âu nên chống lại làn sóng hàng nhập khẩu Trung Quốc vì an ninh của bản thân cũng như lợi ích của người dân Trung Quốc. Xuất hiện dấu hiệu cho thấy các lãnh đạo châu Âu bắt đầu mất kiên nhẫn với trò chơi của Bắc Kinh và chuẩn bị hành động thực chất. Câu hỏi còn lại là liệu quyết tâm ấy có vượt qua được mê cung quan liêu và sức ì cố hữu của châu Âu hay không.
shared via noahpinion,



