Vì sao chiến sự Iran có thể buộc nhiều quốc gia phải bớt lệ thuộc vào khí đốt tự nhiên?
30/03/26
Cú sốc năng lượng mới đang lan rộng từ Trung Đông
Từ Tây Âu tới Đông Á, nhiều quốc gia đang phải ráo riết tìm kiếm nguồn khí đốt tự nhiên thay thế sau khi chiến tranh với Iran làm gián đoạn nguồn cung nhiên liệu từ Vùng Vịnh, thứ vốn sử dụng hằng ngày để nấu ăn, sưởi ấm và phát điện.
Trong ngắn hạn, Mỹ gần như chắc chắn sẽ hưởng lợi từ cơn địa chấn này. Với vị thế là nước xuất khẩu khí đốt lớn nhất thế giới, Mỹ đang đứng trước cơ hội giành thêm thị phần, tăng giá bán và đẩy nhanh các dự án đầu tư mới.
Nhưng ở một tầng sâu hơn, cuộc chiến với Iran hiện đã bước sang tháng thứ hai cũng đang nhắc lại thực tế cay đắng với toàn bộ ngành dầu khí toàn cầu. Phụ thuộc vào khí đốt nhập khẩu luôn là canh bạc đầy rủi ro. Khi địa chính trị biến động, những nước mua khí đốt có thể nhanh chóng rơi vào thế bị động, đối mặt với giá cả leo thang và nguy cơ thiếu hụt nguồn cung.
Điều đó không chỉ làm lung lay các kế hoạch mở rộng xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng của ngành năng lượng, mà còn tạo ra động lực mới cho các lựa chọn thay thế như năng lượng tái tạo, than đá và điện hạt nhân.
Jack Fusco, CEO Cheniere Energy, một trong những nhà xuất khẩu khí đốt lớn của Mỹ, thừa nhận tại Hội nghị năng lượng CERAWeek ở Houston tuần trước rằng kiểu biến động này, lặp lại vài năm một lần, đơn giản là không tốt cho thị trường.
Bài học thứ hai chỉ trong vài năm
Đây không phải lần đầu tiên cuộc chiến khiến giá khí đốt tăng vọt trên toàn cầu. Cú sốc trước đó xảy ra sau khi Nga phát động chiến dịch quân sự tại Ukraine năm 2022.
So với bốn năm trước, giá khí đốt hiện vẫn thấp hơn đáng kể. Nhưng chiến tranh với Iran chưa kết thúc, mức độ nghiêm trọng của khủng hoảng nguồn cung hiện còn phụ thuộc lớn vào khả năng phục hồi của Qatar, một trong những nước xuất khẩu khí đốt lớn nhất thế giới.
Theo các nhà phân tích, giá có thể còn tăng mạnh nếu Qatar không thể sớm nối lại hoạt động xuất khẩu. Ngay trong ngày thứ ba của chiến tranh, nước này đã dừng chuẩn bị khí đốt cho xuất khẩu. Sau đó, các cơ sở liên quan bị hư hại nặng. Một công ty năng lượng nhà nước cho biết sẽ mất nhiều năm để sửa chữa.
Khí đốt tự nhiên không phải mặt hàng có thể dễ dàng thay thế trong một vài tuần. Chuỗi cung ứng khí tự nhiên hóa lỏng đòi hỏi đầu tư rất lớn và thời gian dài. Sau khi được khai thác, khí đốt phải được làm lạnh xuống -162 độ C để hóa lỏng, rồi vận chuyển bằng tàu chuyên dụng cỡ lớn. Ở đầu nhập khẩu, các quốc gia cũng phải xây dựng cảng tiếp nhận, cơ sở tái hóa khí và hệ thống đường ống để đưa nhiên liệu đến nhà máy điện, khu công nghiệp và hộ gia đình.
Vì đã đầu tư hàng tỷ USD vào toàn bộ hạ tầng đó, nhiều quốc gia giờ đây rơi vào thế khó xử khi phát hiện rằng nguồn cung họ từng đặt niềm tin vào lại không còn đáng tin cậy như trước.
Qatar và lỗ hổng của thị trường khí đốt toàn cầu
Tác động từ việc Qatar gián đoạn xuất khẩu đặc biệt nghiêm trọng vì quốc gia này thông thường cung cấp khoảng 20% lượng khí tự nhiên hóa lỏng toàn cầu. Những nước xuất khẩu khác hiện không có đủ công suất dư thừa để nhanh chóng lấp đầy khoảng trống đó.
Hệ quả đã bắt đầu hiện ra. Tại Nhật Bản, Bangladesh và Thái Lan – những quốc gia vốn thường mua khí từ Qatar – giới chức đã phải tính tới phương án tăng đốt than để phát điện. Ở Hàn Quốc, chính quyền kêu gọi người dân tiết kiệm năng lượng, thậm chí khuyến khích tắm ngắn hơn để giảm tiêu thụ.
Đồng thời, các quốc gia nhập khẩu đang cạnh tranh gay gắt để giành lấy những chuyến hàng khí đốt không đến từ Vịnh Ba Tư. Bầu không khí tại Hội nghị năng lượng ở Houston tuần trước vì thế mang màu sắc rất khác giữa người mua và người bán. Nhiều công ty Mỹ phấn khởi trước triển vọng bán được nhiều khí hơn, giá tốt hơn và có thể đẩy nhanh các dự án cảng xuất khẩu mới.
Meg Gentle, từng điều hành công ty phát triển khí đốt hóa lỏng có trụ sở ở Houston, nhận định rằng các nhà sản xuất Mỹ đang ở vị thế của những người chiến thắng rất lớn.
Không chỉ Mỹ, những dự án khí đốt tại Canada hay Argentina cũng có thể được thúc đẩy nhanh hơn khi các nước nhập khẩu tìm cách đa dạng hóa nguồn cung.
Quá nhiều rủi ro có thể khiến khách hàng đổi ý
Nhưng trong ngành năng lượng, quá nhiều cơ hội ngắn hạn đôi khi cũng có thể là dấu hiệu cho thấy rủi ro dài hạn đang tăng lên.
Càng để chiến tranh kéo dài và tiếp tục làm rối loạn thương mại năng lượng toàn cầu, các nước nhập khẩu càng có thêm lý do để tìm cách tự bảo vệ mình khỏi những cú sốc tương tự trong tương lai. Họ có thể đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng nội địa, tăng tốc tiết kiệm năng lượng hoặc tìm những công nghệ khác ít phụ thuộc hơn vào thị trường khí đốt quốc tế.
Châu Âu là ví dụ rõ ràng. Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế, lục địa này hiện sử dụng ít hơn khoảng 16% khí đốt so với năm 2021, tức trước khi chiến sự Nga - Ukraine bùng nổ.
Ira Joseph, nhà nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Chính sách Năng lượng Toàn cầu của Đại học Columbia, cho rằng uy tín của khí đốt hóa lỏng và của mô hình nhập khẩu khí đốt nói chung đã bị tổn hại nghiêm trọng. Ông nói điều đó đã bắt đầu từ Nga và nay bị lặp lại với Qatar.
Giá khí đốt cao hơn cũng đồng nghĩa các lựa chọn thay thế trở nên hấp dẫn hơn. Trước chiến tranh, Cơ quan Năng lượng Quốc tế từng kỳ vọng châu Á sẽ là động lực cho mức tăng 9% của nhu cầu khí đốt toàn cầu đến năm 2030, trong bối cảnh nguồn cung LNG thế giới dự kiến tăng gần 50%. Nhưng viễn cảnh đó có thể thay đổi nếu các nước không còn bảo đảm được nguồn cung hoặc không đủ khả năng chi trả.
Tuần trước, Goldman Sachs đã nâng dự báo giá LNG tại châu Á thêm 15% cho nửa cuối năm nay. Đến năm 2028, ngân hàng này cho rằng LNG tại châu Á có thể đắt hơn 57% so với dự báo trước chiến tranh. Dự báo với châu Âu cũng bị điều chỉnh theo hướng tương tự.
Brendan Duval, CEO Glenfarne – đơn vị đang phát triển các cảng xuất khẩu khí đốt tại Mỹ – cho rằng mọi khách hàng giờ đây đều sẽ đặt lại câu hỏi. Với những thị trường nhạy cảm về giá như Ấn Độ, sẽ rất khó để họ không cân nhắc việc giảm bớt phụ thuộc vào LNG nếu những cú sốc như vậy cứ lặp lại vài năm một lần.
Cơ hội cho năng lượng tái tạo, than và điện hạt nhân
Những lãnh đạo năng lượng không trực tiếp kinh doanh LNG nhìn thấy ở đây một tín hiệu lớn hơn. Các nước nhập khẩu giờ đã có lý do rõ ràng hơn để đầu tư mạnh tay vào các lựa chọn thay thế.
John Ketchum, CEO NextEra Energy – tập đoàn sở hữu các dự án điện gió, điện mặt trời, điện hạt nhân và nhà máy điện khí tại Mỹ – cho rằng nếu một quốc gia không có tài nguyên nhiên liệu hóa thạch và phải dựa vào nhập khẩu, họ chắc chắn sẽ muốn tự bảo vệ mình. Một trong những cách để làm điều đó là phát triển năng lượng tái tạo kèm hệ thống lưu trữ, hoặc điện hạt nhân.
Nhiều người cũng bắt đầu nhìn Trung Quốc như một ví dụ về chiến lược an ninh năng lượng dài hạn. Trong hai thập niên qua, Bắc Kinh đã nỗ lực giảm phụ thuộc vào dầu và khí đốt nhập khẩu, phần lớn không phải vì khí hậu mà vì nỗi lo an ninh năng lượng. Trung Quốc đã xây hàng trăm nhà máy điện than dùng nguồn than trong nước, lắp đặt công suất gió và mặt trời lớn hơn toàn bộ phần còn lại của thế giới cộng lại, xây dựng hàng chục nhà máy điện hạt nhân và thúc đẩy mạnh ngành xe điện. Vì vậy, dù Trung Quốc vẫn nhập LNG với quy mô lớn, nước này có nhiều dư địa hơn để cắt giảm tiêu thụ khí đốt khi khủng hoảng xảy ra.
Ngoài ra, các quốc gia cũng có thể phát triển thêm nguồn khí đốt nội địa hoặc đầu tư vào các kho dự trữ lớn hơn để chống chọi với các cú sốc nguồn cung. Tuy nhiên, theo Wood Mackenzie, cả hai hướng đi đó đều cần nhiều thời gian mới tạo ra tác động đáng kể.
Người Mỹ chưa cảm nhận rõ nhưng điều đó có thể thay đổi
Cho tới nay, người tiêu dùng và doanh nghiệp Mỹ vẫn chưa phải chịu mức giá khí đốt tăng mạnh như nhiều nơi khác. Lý do, Mỹ là quốc gia sản xuất rất lớn, trong khi khí đốt vốn khó vận chuyển hơn dầu nên giá thường được hình thành theo khu vực chứ không hoàn toàn đồng nhất toàn cầu.
Nhưng điều đó không có nghĩa Mỹ sẽ miễn nhiễm mãi. Nếu trong những năm tới, nhu cầu với khí đốt Mỹ tăng mạnh, trong khi nguồn cung từ Qatar tiếp tục hạn chế, giá khí đốt trong nước Mỹ nhiều khả năng cũng sẽ nhích lên.
Goldman Sachs gần đây đã nâng dự báo giá khí đốt tại Mỹ trong năm 2028 thêm hơn 30%.
Trong ngắn hạn, chiến tranh ở Iran có thể mở ra thời kỳ bội thu cho các nhà xuất khẩu khí đốt. Nhưng về dài hạn, nó cũng đang thúc đẩy thế giới suy nghĩ nghiêm túc hơn về một câu hỏi ngày càng khó né tránh. Liệu khí đốt nhập khẩu còn là nền tảng an toàn cho an ninh năng lượng quốc gia hay không?
shared via nytimes,



